alt
Trần Thu Hương

“Tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu!”, biết đến câu này vào lúc trí óc còn non dại, nên tôi chưa thể hiểu hết được ý nghĩa mà nhà văn này muốn diễn đạt. Nhưng kể từ đó, hình ảnh một vì sao đã dính liền vào đời tôi, như câu truyện của nàng Đạm Tiên nhẩy xuống sông Tiền Đường đã bám chặt theo cuộc đời của Thúy Kiều vậy. Thỉnh thoảng một vài sự kiện xẩy ra trong đời, đã cho tôi thoáng chút suy tư? Chả hiểu tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao tốt hay cũng lại xấu như nhà văn này? Nhưng thôi, phần đó sẽ dành cho ý kiến của đọc giả, sau khi xem qua câu truyện về đời tôi.

Tôi mở mắt chào đời vào giữa mùa Thu của một ngày cuối tháng 8 năm 1960 tại thành phố nhỏ bé nằm trên quốc lộ 20, giữa Sài Gòn và  Đà Lạt, có tên gọi là Bảo Lộc. Lớn lên trong một gia đình 8 người con, mà tôi là người thứ 4, trên tôi có 3 người chị và dưới tôi thì 2 em trai và 2 em gái.

Đời sống của tôi cũng giản dị như bao người dân Bảo Lộc hiền hòa thời bấy giờ. Cũng trải qua thời tiểu học tung tăng cắp sách, vui đùa cùng bè bạn tuổi hoa mơ, rồi cũng biết e lệ trong tà áo dài tha thướt với chiếc áo len mầu hoa sim tím của trường trung học Lê Lợi. Cuộc sống tưởng cứ được yên bình trôi theo dòng thời gian như thế cho đến khi lấy chồng, rồi sinh con như những người con gái khác.

 

alt
Chợ Bảo Lộc 1969

 

Nhưng nào ai mà có thể ngờ đến một biến cố thật tang thương lại xẩy ra cho đất nước, vào đúng năm tôi sắp bước vào tuổi 15.  Khi đó là vào cuối tháng 3 năm 1975, tình hình Bảo Lộc vẫn yên tĩnh, nhưng nhờ ông cậu họ, tức là người em họ của Mẹ tôi, đang làm chung với vài cố vấn Mỹ ở Sài Gòn báo cho biết là Bảo Lộc sẽ di tản. Thế là Bố liền dẫn dắt gia đình đi xuống Long Hương, một quận lỵ nhỏ bé nằm giữa Phan Rang và Phan Thiết, nơi mà ông anh rể của tôi, Thiếu Tá Trương Đức Minh đang làm Quận Trưởng.

Ở Long Hương được vài ngày thì tình hình ở đây lại bắt đầu nhốn nháo. Dòng người di tản từ Nha Trang, Cam Ranh tràn về làm đặc nghẹt các con đường. Biển những hôm đó tự nhiên động mạnh nên anh Minh gởi gia đình bên anh ấy, cùng với gia đình chúng tôi theo đoàn xe của một gánh hát vừa lưu diễn ở đó để về Sài Gòn.

Đi cả 7 ngày trời mà đoàn xe chỉ nhích đến được Bình Tuy. Thấy tình hình không thể đi xe được do đoàn người di tản quá đông, thế là Bố chúng tôi đón ghe đi về Vũng Tầu, rồi đi xe đò về đến Sài Gòn. Vì hy vọng vào sự giúp đỡ từ ông cậu họ là sẽ đưa gia đình chúng tôi ra nước ngoài bằng máy bay.

Nhưng ở Sài Gòn đến giữa tháng 4 thì tình hình bắt đầu nóng bỏng, nhận thấy những người mà cậu họ của tôi hứa giúp đỡ rất là đông, và đường vào phi trường thật là hỗn loạn, hầu hết mọi người cùng đổ xô về nơi đó để tìm cách lọt qua hàng rào ngăn cản. Thế là Bố tôi quyết định đưa toàn bộ gia đình ra Vũng Tầu. Tôi nghĩ với kinh nghiệm Bố Mẹ tôi đã có của chuyến di cư vào Nam năm 1954 trên tầu ‘há mồm’, nên cứ nơi nào có nhiều ghe cộ tầu bè thì nơi đó dễ ra đi hơn. Cũng may, vì chính gia đình của ông cậu họ tôi, thì cũng chỉ có mỗi mình cậu đi lọt được, còn bao nhiêu đều bị kẹt ở Việt Nam. Vì không thể  vượt qua được những lớp hàng rào cản của Quân Cảnh Việt Nam và MP Mỹ ,cùng những nhân viên C.I.A mặc thường phục với súng colt 45 lăm lăm trên tay.
 
Ngày 23 tháng 4, gia đình ra khơi trên một chiếc ghe mà Bố tôi mướn được. Lúc đó hạm đội của Mỹ chưa xuất hiện, ghe của gia đình tôi cứ thế thả trôi lênh đênh trên biển vài ngày cùng rất nhiều ghe khác chung quanh. Say sóng nên ăn uống chẳng được, lại thiếu thốn tiện nghi về nơi ăn chốn ở nên chỉ sau vài ngày, chị em chúng tôi đều lăn quay ra kiệt sức và bệnh hết cả.

Bố Mẹ tôi cũng mất sức dần và thật sự lúc đó cũng chả biết là phải chờ đợi cái gì và chờ đợi đến bao lâu. Nhìn tình cảnh các con đều đổ bệnh nằm la liệt trên ghe, Bố tôi quyết định nói chủ ghe quay lại vào bờ ngay chiều ngày 29 tháng 4. Khi ghe tấp lên bãi cát, chị em chúng tôi mệt nhọc dìu nhau đi lên khu nhà của dân chài dọc theo bờ biển, thì mới nhận thấy làng xóm có nhiều nhà vắng tanh, chắc mọi người ở những căn nhà đó đều bỏ đi hết cả rồi.

Chợt thấy một căn nhà cửa mở toang hoang nhưng chả thấy bóng dáng ai ở, gia đình chúng tôi đi vào, quả thật chả có người nào cho dù chúng tôi lên tiếng kêu gọi mãi. Đi lần ra phía sau, thấy có giếng nước và trong nhà bếp với một hũ đựng gạo còn hơn 2/3, chúng tôi bèn lấy củi nhóm bếp lửa lên sưởi ấm, sau đó đi tắm, giặt và nấu ăn rồi nghỉ qua đêm ở căn nhà này.

Sáng ngày 30 tháng 4, anh rể tôi thấy nhà gần đó có cái ghe và họ đang chờ nước lên để đi. Thế là anh rể tôi đến xin họ cho đi cùng, họ chấp nhận vì ghe rất rộng và cũng cho anh rể tôi biết tin là đã mất nước. Nghe vậy mọi người đều kinh hoảng, gia đình anh rể tôi lên ghe ngay, nhưng Bố tôi không chịu đi nữa vì chúng tôi vẫn còn đang bệnh. Bố sợ ra biển cũng bị lênh đênh như những hôm trước nữa thì chưa bị việt cộng giết, chúng tôi đã chết hết vì bệnh rồi cũng nên.

Anh rể tôi khóc và nói với Bố tôi là nếu ở lại thì cả nhà sẽ bị đấu tố, anh nhắc lại số phận của đồng bào bị kẹt ở lại miền Bắc vào năm 1954. Thế là Bố cũng vội vàng cho gia đình ra khơi. Khi ghe đi ngang qua bãi trước, tôi có nghe nhiều tiếng nổ do đạn pháo kích vào thành phố vang ra rồi.

Ghe cứ thế chạy thẳng ra khơi mênh mông sóng nước, đi được một lúc thật lâu thì thấy những chiếc tầu của Mỹ đang đậu ở đó để đón đồng bào tị nạn. Gia đình chúng tôi lên tầu và được đưa đến đảo Guam, nơi đây, người Mỹ đã chuẩn bị một trại ti nạn thật lớn. Trong thời gian ở đảo Guam này, một hôm vợ chồng ông chú của tôi đến chơi có dẫn theo một người con trai khoảng 20 tuổi, anh này là cháu gọi vợ của chú tôi bằng bác, tên anh là Đạo, thế là tôi và anh Đạo biết nhau từ lúc ấy.

Thời gian sau, gia đình tôi đi định cư ở Cali, tôi tiếp tục học high school ở đó, còn anh Đạo đi định cư ở Oklahoma, và anh cũng đi học lại. Đến năm 1977, anh xin đổi qua học ở Cali, từ đó vào những lúc được nghỉ, anh thường đến thăm gia đình tôi, đúng ra là thăm tôi. Nhưng lúc đó, vì tôi không có anh trai nên tôi quý và chỉ xem anh như một người anh trong gia đình mà thôi, chứ không hề có ý nghĩ gì khác, trong lúc đó anh Đạo đã để ý đến tôi(sau này anh nói nên tôi mới biết).

Khi tôi xong high school vào năm 1978 thì tôi học tiếp ngành Kế Toán, cũng trong thời gian này thì tôi có người bạn trai. Khi anh Đạo biết tôi đã có người yêu thì rất buồn, nhưng anh vẫn thỉnh thoảng ghé nhà tôi chơi. Cuối năm 1978, anh Đạo rủ chị của tôi cùng lái xe đi thăm người bác của anh ở Louisiana, chị tôi nói tôi đi luôn để phụ lái, vì từ Cali qua đó cũng phải 24 tiếng.

Nhưng khi chúng tôi đi ngang qua tiểu bang Texas vào lúc chập choạng tối thì xe bị nổ lốp, trời lại đổ cơn mưa tầm tã. Nhìn anh Đạo hì hục thay bánh xe trong cảnh trời thì tối đen, mưa như trút nước, gió thổi mịt mù, tôi rất lo lắng. Khi đến nơi, tôi phone ngay cho người bạn trai kể lại những sự việc xẩy ra trong chuyến đi. Bạn trai của tôi hoảng sợ và quyết định book vé máy bay cho tôi và chị tôi về lại Cali chứ không chịu để chị em tôi lái xe phụ với anh Đạo nữa. Thế là hai chị em tôi về bằng máy bay, anh Đạo phải lái xe về Cali một mình. Vì sự việc đó mà anh giận tôi ghê lắm, nhưng giận thì giận mà yêu thì vẫn cứ yêu như thường.

Đầu năm 1981 thì tình cảm của tôi và người bạn trai chấm dứt cách bất ngờ. Tôi bị hụt hẫng và như rơi vào cơn lốc xoáy muộn phiền khiến chả thiết gì cả. Cũng may lúc đó anh Đạo luôn ở bên cạnh để an ủi săn sóc vỗ về. Anh thường dẫn tôi ra biển, hầu cảnh trời rộng rãi thoáng mát sẽ khuây khỏa tâm hồn tôi, anh dẫn tôi đi xi nê mong những phim vui sẽ cho tôi quên đi chuyện tình buồn, anh dẫn tôi đến vũ trường hy vọng tiếng nhạc sẽ mang lại tôi niềm sống mới.

 

alt
Nguyễn Văn Đạo và Trần Thu Hương


Gia đình tôi rất ngạc nhiên khi thấy chúng tôi bắt đầu thân thiết nhau, nhưng phải thú thật là ngay cả lúc đó, tôi cũng chưa yêu anh Đạo, chỉ mến thích và biết ơn lòng bao dung của anh mà thôi. Năm 1982, tôi xong lớp Kế Toán và bắt đầu đi làm, công việc bận rộn giúp tôi hàn gắn dần vết thương. Cũng năm đó, chị Hồng của anh Đạo ở Louisiana đến Cali, người mà anh Đạo đã rủ chị em tôi lái xe đến thăm vào cuối năm 1978. Chị Hồng nói anh Đạo chở đi San Francisco cho biết, anh Đạo mời tôi đi luôn. Tôi nhận lời và chính trong chuyến đi đó, tình cảm tôi đối với anh Đạo cũng nẩy nở đôi chút.

Sau hai năm miệt mài với những con số chi chít, những hàng chữ dài ngoằn, thì tôi cảm nhận rằng ngành Kế Toán nhức cả đầu thật sự không thích hợp, do đó vào năm 1984, tôi quyết định đi làm ban ngày, còn đi học làm tóc ở Beverly Hill vào buổi tối. Thỉnh thoảng anh Đạo cũng đưa tôi đến lớp học làm tóc, trong lúc tôi đang lu bu thực tập bên những cái đầu tóc giả thì anh Đạo lang thang trong khu shopping cho qua thời giờ. Nhưng chỉ đưa mắt ngó thôi chứ không dám đụng vào, “phỏng tay”, vì các loại hàng ở đây rất mắc, dành cho những người giầu có mà.

Sau đó tôi bỏ nghề Kế Toán chuyển hẳn sang làm tóc. Cuối năm 1985, anh Đạo hỏi tôi làm vợ. Tôi còn nhớ khi anh ngỏ lời cầu hôn thì Mẹ tôi nói là tôi không biết nấu cơm, anh Đạo vẫn cương quyết xin lấy. Thế là đám hỏi và đám cưới của chúng tôi được hai bên Bố Mẹ cho phép tiến hành vào tháng 12 năm đó, tôi 25 tuổi và anh Đạo 31 tuổi. Tuy đã làm vợ, nhưng thật sự tôi vẫn chưa yêu anh, chỉ kính trọng do anh là một người chồng rất tốt, lúc nào cũng lo cho tôi được đầy đủ. Tôi nghĩ và hy vọng rằng, tình yêu rồi sẽ đến với tình nghĩa như cảnh “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó” của ông bà mình.

 

alt
Lễ Thành Hôn


Có điều này kể ra cho vui là trước khi nhận lời cầu hôn của anh Đạo, tôi cứ tưởng mình sẽ được làm vợ một anh kỹ sư tiền bạc rủng rỉnh tha hồ shopping, nhưng hỡi ôi, thực tế hoàn toàn trái hẳn. Lúc ấy anh đang phải giúp đỡ gia đình của anh đang còn ở Việt Nam, đồng thời lại cưu mang thêm hai đứa em vừa vượt biên đến nơi. Chưa dừng lại ở đó đâu, vì một vài bạn bè của anh cũng đang lâm vào hoàn cảnh chưa tìm được việc làm, nên anh thỉnh thoảng cũng giúp đỡ hết lòng. Phải, chỉ đến lúc đó, tôi mới nhận ra tính hào phóng rộng lượng của anh, tôi không giận hay buồn mà lại rất thích, vì những gì anh làm rất hợp với bản tính của tôi, vì vậy tôi hết sức vui lòng chấp nhận là người nâng khăn sửa túi cho một anh kỹ sư nghèo.

Khi bắt đầu cuộc sống chung, tuy ban ngày phải đi làm, còn buổi tối đi học lên Master, nhưng anh vẫn lo cơm nước đầy đủ mỗi khi tôi đi làm về. Tình cảnh kéo dài cả năm trời như thế, mà anh không hề buông một lời ta thán hay trách móc tôi gì cả. Sau đó, thấy anh vất vả quá, tôi nói anh dậy tôi nấu ăn và tôi cũng mua sách dậy nấu về học. Có điều không ngờ là tôi cũng có khiếu về môn này ghê lắm, tôi học rất nhanh, cách nêm gia vị cũng như mắm muối của tôi rất khéo.

Sau khi lấy được Master thì anh cũng được lên chức, với nhiệm vụ  mới, anh thường xuyên phải đi xa đến các chi nhánh của hãng để kiểm soát chất lượng mặt hàng và số lượng sản xuất. Anh thường gọi tôi đi cùng với anh vì anh nói đi đâu cũng muốn có vợ có chồng, thế mới vui, mới hạnh phúc. Chúng tôi thường đến hồ Havasu nghỉ ngơi, hay đi cắm trại thật xa thành phố, thuê xe đạp, thuê jetsky. Có khi anh lại dẫn tôi đi qua nước Mễ để câu những con cá thật to, vì thú vui nhất của anh là câu cá, do đó anh đã mua rất nhiều cần câu với đầy đủ dụng cụ câu cá thật tốt để đi câu với bè bạn hay người em của anh ấy.

 

alt

Một Chuyến Đi Câu


Quả thật anh Đạo là người sống hết lòng và luôn đầy đủ bổn phận với gia đình. Không những thế, anh luôn luôn giúp đỡ bạn bè nhưng không bao giờ anh nói ra, vì tôi biết anh đã âm thầm giúp cho nhiều người vào làm chung hãng với anh.

Năm 1987, chúng tôi có đứa con trai đầu lòng và đặt tên là Dân. Có điều lạ là tôi không biết mình đang cấn thai, trong khi đó thì anh Đạo tự nhiên lại bị nôn ọe cách kỳ cục. Đi khám bác sĩ thì bác sĩ nói chả có bệnh gì cả. Anh mới nói hay là tôi có bầu chăng, tôi tức cười quá vì tôi chả cảm thấy gì cả, nhưng chiều lòng anh, tôi đi khám thì quả nhiên, tôi đã cấn thai được 3 tháng.

Điều này cũng lại xẩy ra lần nữa vào năm sau, khi thấy anh Đạo tự nhiên nôn ọe cách kỳ cục như lần trước thì tôi lại đi khám bác sĩ. Kết quả là tôi mang thai cháu thứ hai và cháu gái ra đời với cái tên là Di.
 
Cuộc sống gia đình tôi cứ êm đềm trôi trong biển hạnh phúc, đến năm 2003 thì anh Đạo liên lạc lại được với một số các bạn cùng trường Nông Lâm Súc khi xưa, như anh Thành, anh Trang, anh Triệu Lương, chị Đồng Anh anh Hưng Thái v…vv  

Tôi còn nhớ Đại Hội lần thứ nhất được các anh chị tổ chức tại Hội Trường của Nhật Báo Người Việt vào ngày 26 tháng 6 năm 2004. Chúng tôi mỗi người nấu một hay hai món và mang tới chung vui với nhau. Thế là từ đó, tôi lại sát cánh với anh, hết lòng đóng góp trong những lần họp mặt kế tiếp. Đặc biệt là những kỳ Đại Hội sau này, tuy được tổ chức tại nhà hàng, nhưng vào những buổi Tiền và Hậu Đại Hội, thì một số chị và tôi, cũng lại nấu một vài món thật đặc biệt để các bạn đến tham dự thưởng thức. Đó cũng là niềm vui của phái nữ chúng tôi, riết rồi thành quen lệ, cứ mong tới ngày họp mặt để được dịp “trổ tài” nấu nướng. Ngay cả những công việc đặt nhà hàng hay các tiết mục ca hát, anh Đạo và tôi đều hăng say tham gia.

 

alt
Ngày Vui Họp Mặt Của Gia Đình NLS

Nhưng tôi đâu có ngờ là ngay trong những ngày tháng này thì anh Đạo đã được bác sĩ cho biết lá gan của anh đang tổn hại vì bệnh ung thư. Sau đó anh tỏ ý với tôi là muốn nghỉ hưu. Anh giải thích là với số tiền hưu trí hàng tháng của anh thì cuộc sống của chúng tôi cũng rất đầy đủ, vì thế anh muốn dành thêm nhiều thời gian hơn cho vấn để chăm sóc vợ con. Tôi hết sức cảm động và hoàn toàn đồng ý với anh, không hề biết rằng anh cố ý dấu tôi về cơn bệnh - sợ tôi buồn lo.

Vào tháng 9 năm 2010, anh Đạo tổ chức một chuyến đi cruise tới Alaska để kỷ niệm lần thứ 25 anniversary của chúng tôi, và cũng là năm tôi vừa bước qua ngưỡng cửa nửa thế kỷ của đời người. Đã có anh chị Thành, anh chị Phương, anh chị Ung Siu Mần cùng chung vui trên chuyến đi này. Trên đường về, phái đoàn chúng tôi ghé Seattle thăm gia đình anh Thạch, gia đình chị Tốt. Tôi còn nhớ chồng chị Tốt tính tình rất vui vẻ hiền hòa, anh đón tiếp chúng tôi rất ân cần và với tấm lòng chân thành, nồng ấm, khiến tôi không bao giờ quên. Chưa ngừng ở đó, vì thấy còn rộng thì giờ, chúng tôi lại bàn nhau rồi tất cả lại đi qua Canada chơi thêm vài ngày nữa.
 
Vào khoảng đầu năm 2011, vợ chồng anh Thắng chị Nguyện ngỏ ý muốn về Việt Nam chơi. Thế là vợ chồng anh Dự, vợ chồng anh Cương chị Liễu, vợ chồng tôi và thêm chị Kim Anh thủ quỹ, tất cả cùng theo chân anh chị Thắng Nguyện đi về vào tháng 3 năm đó.  Chúng tôi có ghé thăm trường Nông Lâm Súc, nơi chôn dấu thật nhiều dấu ấn kỷ niệm của các anh chị học viên một thời nào đó. Chỉ tiếc một điều là chúng tôi không đủ thời gian để đi ra Bắc được, chính điều đó lại là điều mà anh Đạo mong ước từ lâu. Cho đến tận bây giờ, mỗi khi nghĩ lại, tôi vẫn ân hận khôn nguôi.

Sau khi về lại Mỹ thì ngay vào tháng 7, chúng tôi gồm có: vợ chồng tôi, chị Kim Anh thủ quỹ, anh Tuấn, chị Quỳnh Hoa và anh Dự. Tất cả kéo nhau đi lên San Jose thăm anh Tư Lung, chị Hương, anh  Huỳnh Thạch ở Seattle cũng bay xuống tham dự. Chúng tôi đã có buổi họp mặt với tất cả các anh chị đang cư ngụ tại đó thật là vui và náo nhiệt. Lúc này thì bệnh anh đã nặng hơn, nhưng anh vẫn đi vì đã hứa với anh Thạch là hẹn gặp nhau ở San Jose, nên anh không muốn thất hứa với bạn bè. Tính của anh luôn luôn chơi hết lòng, ngay cả bệnh tình như thế mà anh vẫn dấu tất cả mọi người, để bàn tay luôn hân hoan cầm những chai bia, hay nâng những ly rượu, miệng thì luôn nở nụ cười thân ái với hai chữ “kính anh”, đi tới đi lui chung vui với mọi người trong những buổi họp mặt.

Tôi còn nhớ, lần cuối cùng để anh có dịp nhấp chén men say là vào lần anh đi dự đám cưới của con gái anh Triệu Lương vào tháng 9 năm 2011. Sau buổi tiệc đó, thì sự tiêu hóa thức ăn của anh Đạo bắt đầu gặp khó khăn, anh ăn uống không được và kiệt sức từ từ. Tôi vô cùng lo lắng hỏi, thì lúc này anh mới nói rõ thực trạng bệnh tình. Tôi vội vàng đưa anh vào bệnh viện nhưng đã quá trễ, bạn bè thường xuyên túc trực bên giường bệnh.

Anh rất bình tĩnh, khuyên tôi là chớ khóc và không nên buồn quá mà sinh bệnh, còn phải giữ gìn sức khỏe để chăm sóc hai con. Anh nói anh rất hài lòng vì có tôi luôn ở cạnh bên từ lúc lấy nhau đến lúc chia tay.

Đến khi biết mình không thể qua khỏi, anh xin bác sĩ cho về nhà. Trong cơn hấp hối, anh mỉm cười ra dấu cho tôi ghé sát tai vào để anh thì thầm, anh hiền từ thú nhận là “tán” được tôi sao mà quá khó khăn đi, nhưng nếu có kiếp sau, và kiếp sau cho dù có khó gấp 10 lần hơn, thì anh cũng vẫn sẵn sàng đi theo “tán” nữa. Nói xong những lời đó thì anh nhẹ nhàng nhắm mắt, ra đi cách thản nhiên như đang chìm dần vào giấc ngủ yên bình ngay bên cạnh tôi, cùng hai cháu Dân, Di và một số bạn thân. Đó là vào lúc 4 giờ sáng ngày 30 tháng 9 năm 2011.

Ngồi viết lên những dòng chữ này để nhớ về một người anh đáng kính, một người bạn đời chung thủy, một người chồng quá tốt, một người cha gương mẫu đầy hy sinh. Tôi cũng xin thú nhận rằng cho đến khi nhắm mắt từ giã cõi đời này, thì tôi cũng không bao giờ có thể quên anh, hình ảnh anh mãi mãi ngự trị trong trái tim tôi, mãi mãi là ánh lửa vừa để sưởi ấm vừa để soi đường cho tôi cùng hai con, tiếp tục dẫn bước trong cuộc sống – quả thật tôi đã may mắn biết bao khi được làm vợ của anh, anh Nguyễn Văn Đạo thương yêu.

Cho đến nay, tôi vẫn chưa thể biết được là tôi đã sinh ra dưới một ngôi sao như thế nào? - Quý vị đọc giả nghĩ sao? - Duy có điều tôi biết chắc chắn rằng, “một vì sao sáng đã lìa xa tôi”.

Một Đời Thương Nhớ
Trần Thu Hương