{jcomments on}
Cuối năm 2011, Thầy Trần Ngọc Xuân, nguyên tổng giám canh (1967-1968) dạy mục súc, đến thăm và tặng tôi quyển “Histoire d’une paix manquée – Indochine 1945-1947” của Jean Sainteny (tôi đã kể trong bài “Chuyện gạo lứt muối mè”), giúp tôi nhớ lại những quyển sách kỷ niệm của đồng nghiệp NLS tôi còn lưu giữ qua mấy mươi năm ròng rã.
 
Ngay sau ngày 30-4-1975, Ban quân quản Sài Gòn-Gia Định ra một loạt thông báo cho dân chúng rõ để thi hành lệnh của chính quyền mới, trong đó có thông báo không được tàng trữ sách vở chế độ Mỹ Ngụy!! Ôi thôi, bao nhiêu là sách dạy học, sách tham khảo Việt, Pháp, Anh...  đem xé bìa hủy bỏ, chất đầy ở nhà bếp để nhúm lửa, nấu cơm thay cho củi gần 3 tháng mới hết… Mạng sống của mình còn chưa bảo đảm huống hồ là mấy cuốn sách đó. Tôi an tâm làm lại cuộc đời từ con số không. Thế nhưng tình cảm của con người còn mạnh hơn đời sống bản thân, tôi không thể bỏ đi vài quyển sách, mặc dù không có giá trị khoa học cao, nhưng nó gắn liền kỷ niệm một thời dạy học. Những quyển nầy tôi cất vào một góc tủ mà không lo lắng, vì là sách đơn thuần kỹ thuật. Năm tháng trôi qua, tôi quên bẵng mất.
 
Quyển sách tôi nhớ trước tiên là quyển “Ngữ pháp tiếng Việt của Lê Văn Lý” mà Thầy Mai Bách Huyên, phụ tá giám học, tặng tôi năm 1970. Hầu như tất cả học sinh NLS-BL, kể cả quý anh chị học trung đẳng (kiểm sự) đều quý mến thầy MBH. Vài thầy được học sinh gọi “bố” rất thân thương, như “bố Trực”, bố Ca”, “bố Hộ”, “bố Huyên”… Thầy Huyên có nhiều năm kinh nghiệm trong vai trò phụ tá giám học từ thời Thầy Nguyễn Thanh Vân làm xử lý thường vụ Hiệu Trưởng (1965). Thầy chịu khó học tập để vươn lên. Sau khi đậu tú tài NLS, vào dịp đại học Đà Lạt mở ngành văn chương quốc âm, Thầy ghi danh theo học. Sau một năm học, Thầy đậu xong chứng chỉ dự bị văn khoa, rồi ghi tiếp lên các chứng chỉ cử nhân văn khoa, nhưng nửa chừng thì Thầy quyết định không tiếp tục nữa vì đã tin số mạng!!… Thầy tặng tôi quyển sách ngữ pháp đó.
 
Sau năm 1975, tôi được tiếp tục dạy học cùng với quý thầy cô của ban sư phạm Nông Lâm Súc được chuyển về Trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật ở Thủ Đức. Tôi được tách ra theo tổ sư phạm và giảng dạy môn “Phương pháp giảng dạy nông nghiệp”. Nhờ đó hằng ngày tôi vẫn thường xuyên sinh hoạt với quý thầy cô ở khoa Nông Nghiệp.
 
Hè năm 1987 tôi được cử đến trường nông nghiệp Hậu Giang (trước 1975 là trường NLS Cần Thơ) để bồi dưỡng sư phạm cho giáo viên. Dịp nầy tôi gặp lại vài thầy cô NLS sau hơn chục năm không tin tức. Thầy Lê Quan Hồng tặng tôi quyển Handbook on Agricultural Education in Public Schools của Lloyd J. Phipps.
 
 
Quyển sách nầy trước năm 1975 đa số thư viện các trường NLS đều có. Sách nặng khoảng 2kg, bìa cứng màu xanh dương, dầy 774 trang in khổ lớn. Được quyển nầy như bắt được vàng, tôi mừng lắm, lúc đó tình hình tương đối thoáng, giáo viên có thể tham khảo tài liệu khoa học kỹ thuật nước ngoài. Mặc dù là sách in năm 1965 (cách hơn 20 năm) nhưng vẫn là sách căn bản, tôi dùng nó để bổ sung bài dạy, lấy những ý chánh. Đến nay đầu thế kỷ 21 ở VN, tôi chưa thấy quyển sách sư phạm nào dầy như thế. Đúng là loại Handbook (cẩm nang) cho giáo viên sư phạm. Ngay ở những chương đầu đi thẳng vào trọng tâm:
 
-  What are the prospects for agricultural education
-  How to become a good teacher of agriculture
 
Tiếp theo không biết cơ man nào là các chương: How to… Đúng là quan điểm thực dụng của người Mỹ, nói những gì thật cần thiết cho đúng đối tượng. Các chương bàn về FFA (Future Farmers of America) gợi cho tôi nhớ lại hình ảnh các em học sinh NLS mặc đồng phục áo nâu đi thực hành nông trại. Làm sao tôi quên được hình ảnh các em chịu khó chăm sóc từng luống rau cải, làm vệ sinh chuồng trại… Rồi tôi liên tưởng đến sổ thực hành nông trại, các em làm kế hoạch sản xuất tại gia… Ngày nay không có trường nào thực hiện được, toàn là học chay… Cứ mỗi lớp học mới về môn phương pháp giảng dạy, tôi đều mang theo quyển sách nầy để giới thiệu cho sinh viên thấy sách nước ngoài tầm cỡ thế nào, đồng thời tôi đưa ra quyển sách của tôi nhỏ bé để so sánh. Quyển “Dạy kỹ thuật nông nghiệp ở trường phổ thông trung học“ tôi viết muốn hụt hơi mà chỉ được 147 trang khổ nhỏ. Sinh viên cười rộ, cái cười có lẽ mang nhiều ý nghĩa…
 
Thỉnh thoảng rỗi rảnh tôi thường ghé các nơi bán sách cũ. Tình cờ tôi gặp vài cuốn sách của Thầy Trần Hiệp Nam. Trang đầu sách nào cũng có chữ ký của Thầy, chữ ký rất quen thuộc với chữ T hoa, eo lưng uyển chuyển kèm theo chữ h và chữ nam hơi nghiêng rõ ràng, bên dưới ghi chữ in TRẦN HIỆP NAM. Có lẽ Thầy đã đi nước ngoài, nên sách vở còn lại, người nhà không sử dụng được mới đem bán kí lô. Tôi đứng tần ngần với những quyển sách ấy rất lâu. Người bán sách tưởng tôi đang tính toán trả giá sách, có biết đâu rằng tôi đang hồi tưởng hình ảnh đồng nghiệp của mình mà không bao giờ gặp lại nữa. Sau nầy tôi được biết Thầy Nam mất ở Mỹ. Lúc tôi làm việc ở Nha Học Vụ NLS, Thầy Nam làm chánh sự vụ, chuẩn bị đi Mỹ học tiến sĩ giáo dục. Thầy Nam dạy phương pháp giảng dạy nông nghiệp, còn tôi dạy môn khảo hạch và đo lường trắc nghiệm cho các lớp cao đẳng sư phạm NLS. Sau năm 1975, sắp xếp môn dạy, Thầy trở về dạy các môn chuyên môn thú y chăn nuôi. Thầy nói với tôi: “Anh Lang còn trẻ, cố gắng trao dồi thêm sư phạm, đường anh đi còn dài…”. Tôi không ngờ những dặn dò đó lại là lời chia tay…
 
Tôi chỉ đủ tiền mua vài quyển mà thôi. Mặc dù trong lãnh vực sư phạm, nhưng qua các tựa sách, tôi chưa xác định chính xác thuộc chuyên đề nào cho môn học cụ thể. Quả thật lúc đó trình độ sư phạm của tôi còn thấp. Tôi chọn 2 quyển vì nó dầy, bìa cứng:
 
- Contemporary concepts in vocational education
- Models of teaching
 
Tôi ghi ngày mua tháng 7/1991 bằng bút chì. Tôi xem lướt qua nội dung và năm xuất bản, một cuốn in năm 1972, cuốn kia năm 1971, thì ra đây là sách Thầy Nam sử dụng khi theo học tiến sĩ (1972-1974). Biết là sách giá trị ở trình độ cao, nhưng tôi chưa có dịp sử dụng. Tôi cất hai quyển nầy nằm yên ở kẹt tủ ròng rã hơn 10 năm. Đến năm 2005, cao học giáo dục học của trường Đại Học SPKT Thủ Đức bổ sung thêm một số môn học mới, trong đó có môn ”Mô hình dạy học”. Một tiến sĩ được mời dạy môn nầy, hiểu lầm rằng nội dung sử dụng đồ dùng dạy học với phương pháp dạy học. Lúc đó tôi đang dạy môn “Lý thuyết học tập”, bộ phận cao học mới ghép Lý thuyết học tập với Mô hình dạy học thành một môn và thỉnh giảng tôi phụ trách luôn. Nhờ quyển Models of teaching của Thầy Nam, tôi dạy đúng chuyên đề và tham khảo thêm tài liệu ở Internet cho phong phú.
 
Nếu không có quyển sách của Thầy Nam, có lẽ tôi không dám nhận môn nầy. Lúc đó thư viên trường và ngay cả thư viện quốc gia không có quyển sách nào về chuyên đề nầy. Sau một học kỳ, nội dung chương trình và tài liệu học tập tôi soạn tương đối hoàn chỉnh… Rồi tôi không được thỉnh giảng nữa. Tôi chấp nhận trò đời là thế!! Không làm việc nầy thì mình tìm thú vui ở nội dung khác. Tôi rỗi rảnh học chữ Nho, chữ Phạn, chắc không ai giành giựt đâu.
 
Trong lần họp mặt đầu năm 2003, bác sĩ Đặng Quan Điện, nguyên giám đốc Nha Học Vụ NLS, người đã khai sinh hệ thống trung học NLS ở miền Nam, có đề xuất viết tài liệu về giáo dục nông nghiệp, phân công 3 lãnh vực: cao đẳng đào tạo kỹ sư, trung đẳng đào tạo kiểm sự và trung học NLS. Tôi xung phong phụ trách phần trung học NLS. Năm 2006 tôi chuyển bản thảo vài chục trang để bác sĩ duyệt. Bác sĩ nói chờ đủ ba nhóm, sẽ cho ý kiến chung. Lần khác, bác sĩ chuyển cho tôi vài tài liệu nông nghiệp, trong đó có luận án tiến sĩ của Thầy Trần Hiệp Nam về giáo dục nông nghiệp của VNCH. Có lẽ ít người có dịp đọc luận án nầy. Nay những trụ cột NLS đã ra đi vĩnh viễn, mà bản thảo giáo dục NLS còn dang dở, tôi bùi ngùi xót xa…
 
Năm 2010 chuẩn bị cho lớp chữ Nho, tôi tập trung các sách Hán Văn cũ để ôn tập. Quyển Hán văn tự học của Nguyễn Văn Ba, bìa cứng màu đỏ, một kỷ niệm của đồng nghiệp NLS-BL, Cô Dương Thị Tuấn Ngọc, cô láng giềng của tôi.
 
 
Hình ảnh quá khứ hiện lại… Cô Dương Thị Tuấn Ngọc và Cô Võ Thị Thúy Lan ở nhà số 9, tôi ở nhà số 8, cách khoảng đất rộng không có hàng rào bông bụp như trong thơ Nguyễn Bính, thế mà trong suốt mấy năm trời ở BL, tôi không qua thăm láng giềng lần nào cả. Thật là tệ quá!!! Lần lượt Cô Lan rồi Cô Ngọc thuyên chuyển về Sài Gòn. Sau đó tôi cũng chuyển về Nha Học Vụ NLS, rồi cùng dạy lớp cao đẳng sư phạm NLS. Sau 30-4-1975, tất cả được chuyển lên trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ Đức. Dạy được vài học kỳ, Cô Ngọc xin thuyên chuyển về quê, Cô Lan đi nước ngoài, tôi ở lại cho đến ngày nay. Khi rời trường, Cô Ngọc tặng tôi quyển Hán văn nầy, tôi còn nhớ lời của Cô Ngọc: Quyển nầy chắc hạp với Anh Lang, có lẽ ngày nào đó Anh sẽ sử dụng nó. Quyển sách nằm im một góc hơn 30 năm. Nay lấy ra, tôi có cảm giác còn nguyên như mới ngày hôm qua, văng vẳng lời nói và hình bóng Cô Ngọc và Cô Lan.
 
Còn một tài liệu mỏng in ronéo, nếu không kể ra là một thiếu sót vì nó gắn liền với kỷ niệm của học sinh NLS-BL chớ không riêng cho cá nhân tôi: “Cây Rừng Việt Nam”.
 
Cây rừng Việt Nam in ronéo giấy vàng bìa vàng, sau gần 50 năm, giấy ngả vàng sậm, nhưng mực in vẫn còn rõ nét. Tài liệu gồm 3 phần, in 2 mặt, được 19 trang:
 
-Phần 1 có 3 cột: Tên Việt, Tên khoa học, Họ.
-Phần 2 có 3 cột: Tên khoa học, Tên Việt, Họ.
-Phần 3 xếp theo Họ, chia 2 cột: Tên khoa học, Tên Việt.
 
Cuối tài liệu in dòng chữ trong khung:
 
     Trình bày và ấn loạt: TAM và NHỊ Thủy-Lâm niên-khóa 66-67
     Do giáo sư LÊ-THIỆP hướng dẫn
 
Đầu năm 1975, Thầy Nguyễn Văn Kiểm, nguyên chủ sự phòng Nghiên cứu tài liệu Nha học vụ NLS tặng tôi quyển luận văn tốt nghiệp kỹ sư súc khoa của Thầy: “Việc đào tạo chuyên viên cao cấp ngành thú y và chăn nuôi tại Việt Nam”. Luận văn nầy kèm theo phần phụ lục từ trang 92 đến trang 240, tập trung các văn bản pháp quy trong việc đào tạo chuyên viên ngành thú y và chăn nuôi từ thời Pháp thuộc (1902) đến chính quyền VNCH (1974).
 
Nhớ lại khoảng năm 1972-73, tôi làm việc ở Nha Học Vụ NLS, Thầy Châu Bá Lộc, giám học trường NLS Cần Thơ được học bổng đi học bác sĩ thú y ở Thái Lan, Thầy có biếu tôi quyển Practical English-Thai Dictionary, vui vẻ động viên tôi:: “Thấy anh Lang có khiếu ngoại ngữ, biếu để anh nghiên cứu thêm”.
 
Thật tình, thấy chữ Thái ngoằn ngoèo, và học cũng không có mục tiêu cụ thể, tôi cất đó để làm vật kỷ niệm của đồng nghiệp quý mến mình.
 
Lúc làm việc ở Nha Học Vụ NLS, tôi còn phụ trách môn Khảo Hạch và Thi Cử cho lớp Cao Đẳng Sư Pham NLS.  Để bổ sung phần thống kê, Thầy Nguyễn Tấn Phúc, bạn học với tôi ngày xưa ở Pétrus Trương Vĩnh Ký, đã từng công tác ở trưởng NLS Cần Thơ từ năm 1960, từng giữ chức vụ giám học, sau đó làm việc chung với nhau ở Nha Học vụ NLS, mượn giúp tôi quyển: Bố Trí và Giải Tích Thí Nghiêm Thường Dùng Trong Nông Nghiệp (soạn giả: giáo sư George A. Marlove, GS Lê Văn Ký và KS Lê Quang Long). Tài liệu in Ronéo nầy của Thầy Bùi Sanh Báu. cùng công tác ở Nha Học Vụ NLS.  Sau năm 1975, tài liệu nầy giúp tôi soạn bài dạy môn Bố Trí Thí Nghiệm Nông nghiệp. Môn học nầy tôi chỉ dạy thỉnh giảng vài năm cho Khoa Nông Nghiệp Trường Cao Đẳng Sư Phạm Tp Hồ Chí Minh (khoảng cuối thập niên 80). Tôi còn giữ tài liệu nầy tới nay.
 
Tháng 3/2012, tôi đến thăm Thầy Phạm Phi Hoành ở Thủ Đức, Thầy Hoành tặng tôi quyển Quà tặng lớn nhất cho chúng ta (Our greatest gift) mà Thầy đã dịch trong thời gian trị bệnh tại nhà. Dòng chữ Thầy Phạm Phi Hoành ghi: ”Thân tặng anh Châu Kim Lang, người bạn cố tri từ trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc 1966-67 đến Nha Học Vụ NLS và Đại Học SPKT và những năm sau…”. Quyển sách bàn về sự chết. Ai cũng sợ chết, nhưng chúng ta hãy bình tâm đón nhận nó, vì đó là quy luật ngàn đời của tạo hóa: sanh lão bệnh tử.
 
Ngày 01-5-2012 đến dự họp mặt hằng năm của Trường NLS Định Tường tổ chức tại Mỹ Tho, Thầy Phan Quang Định tặng tôi quyến “Triết Học Thế Kỷ XX”, ở trang đầu Thầy ghi:“Thân tặng Anh Châu Kim Lang, bạn cố tri NLS Bảo Lộc”. Quyển sách triết nầy Thầy Định biên tập theo tác phẩm của Remo Bodei. Thú thật, tôi cố gắng đọc, nhưng không hiểu hết ý nghĩa sâu xa của triết học, mà trích dẫn đoạn văn sau đây có lẽ tóm gọn nội dung tác phẩm: “Remo Bodei cố gắng dựng lên bức toàn cảnh của triết học thế kỷ XX trên nền những biến cố và những tiến bộ khoa học lớn lao của thời đại, đồng thời nhấn mạnh những khát vọng làm sáng tỏ các vấn đề trọng đại và thiết thân đối với tất cả chúng ta”.
 
Nhìn lại những quyển sách này, với tôi có giá trị tình cảm không gì so sánh được. Chúng đã giúp tôi tồn tại, sống vững qua bao giông tố của cuộc đời, gắn liền trọn vẹn tình cảm NLS.
 
CHÂU KIM LANG
(Trích Đặc San 2014)