Thể theo sự yêu cầu của một số học trò và hân hữu của Thầy Nguyễn Viết Huyền, chúng tôi xin kèm theo hai bài thơ vẫn thường được nghe Ông ngâm nga lúc sinh tiền, đó là bài Tống Biệt Hành và Hồ Trường. Xin bấm vào nút điều khiển hay tên của bài thơ để nghe lời ngâm.(Trang Nhà)
 
{auto displayheight="0" height="100" width="160" plthumbs="true" shuffle="false" repeat="list" pbgcolor="#f5f5f5" pfgcolor="#000000" phicolor="#669157" showstop="true"}TongbiethanhHotruong.xml{/auto}

Thầy Huyền, một người thầy, một người anh

     Tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, Thầy Nguyễn Viết Huyền nhận nhiệm sở đàu tiên tại trường NLS Bảo Lộc vào năm 1967, và chuyên trị môn Sử Địa. Năm đó, tôi học năm cuối - lớp đệ nhất, dù không được học trực tiếp với Thầy, nhưng tôi biết Thầy.

    Ông có nhân dáng chắc nịch, mầu mỡ, khuôn mặt đầy đặn, trẻ trung, sinh động và đượm chút khí phách “Lương Sơn Bạc", đặc biệt Thầy có tiếng cười sang sảng, thoải mái, có thể nghe được từ xa, và giọng nói to, rềnh rang âm Bắc pha tiếng Nam.

    Thầy vui tính hay pha trò, vừa ý nhị, vừa thân tình nên được bạn đồng nghiệp và học trò quí mến. Với tâm tình của ông giáo trẻ, mang nhiệt huyết, hoài bảo, mong muốn đổi thay, háo hức và hăng say trong công việc, Thầy đã thổi vào trường một luồng sinh khí mới, gần gũi, chan hòa với học trò. Ở Thầy hình như có một cái gì mơi mới, là lạ nên dễ cuốn hút các em học sinh.
 

    Riêng tôi bận trăm thứ chuyện, bài vở một phần ít, phần lớn thì bận chạy ăn từng bữa của một đứa học trò nghèo, bận chọc phá, giỡn hớt, cũng như mất khá nhiều thời giờ để trầm ngâm cho những chuyện trời ơi, đất hởi. Thầy có việc riêng của Thầy. Tôi có việc riêng của tôi nên những ngày trên Blao tôi không có dịp quen và tiếp xúc trực tiếp với Thầy. Những gì được biết về Thầy do nghe kể lại, hay do tham dự những buổi sinh hoạt chung của trường do  Thầy hướng dẫn.  

     Đến cuối năm 1969, tôi gặp Thầy ở văn phòng trường NLS Bình Dương (Búng), mới biết Thầy cũng như tôi đến đây trình diện nhận việc. Qua Ông, tôi biết ông thầy dạy môn triết của tôi, Thầy Phan Quang Định, người cùng đò, cùng năm đến trường NLS Bảo Lộc và cùng một lèo về trường NLS Búng. Chốn nầy, bến mới của các ngài và bến lạ của tôi.

     Những ngày làm việc tại trường, nếu giờ được xếp dồn thì một tuần chỉ dạy có vài ngày. Trùng ngày nên tôi thường gặp Thầy Huyền, Thầy Định và tay hảo hán Trần Tấn Miêng, vốn dân NLS Bảo Lộc khoá đàn anh của tôi, và là ma cũ tại đây đã một vài năm. Thân tình giữa chúng tôi nở dần, khởi đi từ mối tình si chung về trường NLS Bảo Lộc. 

     Trường Búng quả là nơi tụ hội quần hùng, khi đã quen hơi, bén tiếng, tôi biết thêm nhiều đại hảo hán, nữ hiệp, "mỗi người mỗi vẻ, mười phân vẹn mười." Thoáng nhìn thân thủ của họ tôi đã biết ngay, không những họ có nội công thâm hậu, chiêu thức tinh thông, mà còn lâu năm tung hoành chốn giang hồ, và đã bao phen vào sanh ra tử. Nghĩ phận mình, chỉ là tên tiểu tử vừa mới học đứng tấn hôm qua đã bị các bậc đại sư phụ, Lê Quang Minh, Dương Thị Tuấn Ngọc, Võ Thị Thúy Lan, Trần Thiện Chu... bắt phải hạ san, sau khi nhét cho mấy quyển bí kiếp và dặn: "Cứ thế mà làm". Loay quay, lững tững làm sao không biết, mới xuống đến chân núi đã gặp các chư vị hảo hán nầy, hồn kinh, vía hoảng, coi lại tay nãi thì chẳng còn cuốn bí kiếp nào, bất giác nhớ đến các lời của các sư phụ ân cần dặn dò khi chỉ đường xuống núi: "... tránh gây nghiệp ân oán, luôn lấy sự tôn kính đối đáp, túng cùng thì cứ co giò mà chạy, ắt sẽ giữ được tánh mạng.

     Thật tình trong những ngày ấy, tôi không thấy chư vị nào đeo gươm, dáo mác hoặc một lần chứng kiến cảnh động võ, ra chiêu, chỉ được nghe võ mồm của các chư vị thì đã rùng mình, môi tái, cẳng lạnh. Nhưng thiết nghĩ, chốn giang hồ, tiểu tử nầy chưa một lần gây ân oán và nhiếp tâm làm theo lời dạy của sư phụ nên lo cho thân tôi thì ít, mà ái ngại cho Chưởng Môn Hiệu Trưởng thì nhiều.

     Nói thì nói dzậy, lắng nghe những mẫu chuyện đàm đạo của các chư vị thì trên đường hành hiệp giang hồ, ai cũng có lần ghé qua Thiếu Lâm Tự nên họ có nếm chút tương chao, có nghe chút kinh kệ và phần lớn ai cũng có tâm hiền, do đó khi ra tay, không ai dùng chiêu sát thủ và hình như ai cũng được sư phụ của mình dặn dò, "dĩ đào vi thượng."  Có lẽ nhờ thế mà bệnh xá ở chợ Búng vắng như chùa Bà Đanh và đất gò xung quanh chợ Búng ít có mả mới. Có chăng, chỉ là những mồ chôn của những người chết vì bệnh tật hay chết già. Tuy nhiên, những lời triết lý, u uẩn, cao xa của Thầy Phan Quang Định và Thầy Trần Nhật Tân cộng thêm lối nói cà khịa pha nọc ong vò vẽ, chanh, ớt, và xương gà của Thầy Huyền và được sự phụ họa của các chư vị nam nữ hảo hán, đã một thời làm cho các thuốc đau đầu, thuốc đau bao tử ở chợ Búng đâm ra khan hiếm, đã góp phần vào việc làm giàu cho các nhà thuốc Tây, Tàu quanh chợ Búng.

     Biết rõ phần đông các chư vị vốn là dân Sài Thành, chỉ đến trường mần có vài ngày khi xong việc thì ai về nhà nấy; Ban Giám Hiệu đã khéo xếp giờ, khéo xen kẻ nên chỉ có một số nhỏ các đại danh hảo hán, nữ kiệt tụ lại trường cùng một lúc. Thế cho nên, trời chợ Búng có một số ngày mưa rào trút nước nhưng rồi trời cũng sớm quang, mây cũng chóng tạnh. Chút buồn vui chỉ để đời sinh thú thêm thôi! Rồi đâu cũng vào đó một cách lộn xộn.

     Dạy trùng ngày, gặp nhau thường nên dễ thân, hơn nữa, nhỏ tuổi nhất nên tôi được các chư vị thương mà nới tay, che chỡ. Thầy Huyền và Thầy Định đem tình người anh đối đãi với tôi nhưng tôi vẫn một mực cung kính giữ lễ với các Thầy. Đa số chư vị ở Sài Gòn lên dạy liên tiếp vài ngày nên quí vị nào cần ở lại để ngày mai mần tiếp, tôi rủ rê họ về nhà tôi, đúng hơn là của ba má tôi. Một số chư vị tính tình bình dân và rất ư thiệt tình. Họ chẳng màng hay chấp nhất gì đến sự bẩn chật của gia đình tôi và họ đã tới. Có gì họ xơi nấy, thêm đủa, thêm chén, đông vui vậy mà. Ước chi họ bớt thiệt tình thì đỡ hao biết mấy!

     Nói về chuyện chỗ ngủ, lúc đầu chư vị chỉ ngủ tạm qua đêm, về sau thân hơn và khi đã quen giường, mến chiếu thì nhiều đêm ngủ tạm. Lúc ấy hơi sang, tôi có phòng riêng "Tụ Nghĩa Am", vốn là cái chái thấp che tạm ở phía sau nhà, một mình cũng đã thấy chật. Khang trang hơn là trong phòng đó có một cái gọi là giường đôi làm bằng gỗ tạp (giường hay chỏng không biết chữ nào trúng hơn.) Tội nghiệp cho thân phận của nó, ráng chịu đời đắng cay khi được các chư vị chiếu cố leo lên ngự. Có hôm, không rõ bằng cách nào, chồng chéo ra sao để vừa cho năm, sáu tên. Nếu nằm yên không ho thì đỡ sợ, nhưng đằng nầy khi lên giường rồi còn giỡn tiếp. Nhiều đêm giữa khuya gường sập. Chúng tôi lò mò dậy và cũng bằng cách nào đó, kê, ráp, nối... để tương đối hơi bằng bằng một chút là cả đám leo lên ngủ tiếp. Hình như lúc đó, với tuổi hai mươi mí hơn, không ai trong chúng tôi gầy mòn vì mất ngủ, nhất là Thầy Huyền lúc nào cũng màu mỡ, phương phi.

     Càng về sau, Thầy Huyền và anh Miêng là hai người năng lui tới với tôi nhất, có lẽ là do thương tôi một phần, phần khác vì hai vị ấy vốn thiệt tình, hồn nhiên nên ba chúng tôi khắn khít lúc nào không hay. Gần gủi hơn, chúng tôi mới khám phá ra là Thầy Huyền có một biệt tài nhái y chang giọng hát của cô đào cải lương người Bắc, Kim Chung, khi bà đang bị cảm nặng. Lần đầu, Thầy trổ tài cả nhà tôi, ba, má và mấy chị em tôi, cũng như mấy cháu nhỏ hàng xóm bu lại coi và ai cũng cười ngắt nghẻo. Có đứa lăn bò càng ra mà cười. Chúng bảo nhau, lâu quá tôi không còn nhớ chính xác, đại khái là, ngộ quá hé! ông nầy hay ghê, ổng là Bắc Kỳ mà ổng biết hát vọng cổ pha tiếng Bắc Kỳ và lơ lớ tiếng Tàu.

     Nghe khen, nên Ổng ham và làm tới, mấy lần sau đến nhà tôi, cơm nước xong xuôi thì Ông thót lên võng, tằng hắng để lấy giọng rồi cất tiếng ca. Cả xóm bu lại coi khá đông. Nhưng danh ca nào cũng có một thời, người thì được 5, 10 năm. Riêng Thầy  Huyền thì sau ba bốn lần gì đó, khi nghe Ổng tằng hắng thì dù trời đã xế trưa, má tôi cũng xách giỏ đi chợ; mấy đứa em tôi thì co giò chạy sang hàng xóm chơi. Lâu lâu nghe bà hàng xóm mắng chó, chửi mèo. Còn tôi và anh Miêng thì đành phải xẩu mình, cắn răng chịu đời của số phận rau râm. Ca hết sáu câu, hình như mệt, Ổng thiếp đi và bắt đầu ngái. Gà vịt xóm tôi thường ngày hay lang thang trước ngõ sau hè, lúc ấy, chẳng thấy một que. 

     Chẳng bao lâu sau, có lẽ thấy không còn ăn khách ở xóm tôi nên hai ngài Huyền, Miêng nghe lời xui dại của Huỳnh Thị Hương dời rạp sang xóm đạo, số 13 đường Ngô Quyền. Quần hùng lại tụ về nơi đây. Chỗ mới chỉ cách nhà tôi một "đỗi đường", ham vui, tôi cũng nhào tới.

      Nữ hiệp Huỳnh Thị Hương ra tay tế độ nên mọi người cũng được những buổi no say, đàn hát. Bổn cũ soạn lại, hôm nào có Thầy Định tới, thì hai ngài Huyền Định song ca. Lúc đầu lạ, nghe cũng vui tai, sau riết chịu đời không thấu. Mỗi lần thấy triệu chứng hai ngài ngứa cổ là tụi tôi dọt lẹ ra bờ sông ngồi ngắm lục bình trôi, và chờ khuya khuya liệu hai ngài mệt mới dám mò về, cho dù điếc tai với tiếng ngái cũng nhẹ tội hơn tiếng rè ngâm nga của các ngài. Tội nghiệp cho nàng Huỳnh Thị Hương ở căn phòng mướn sát bên, ngày lại ngày, nghe hai Ông thay phiên thi thố, một Bắc Kỳ ca vọng cổ, một Quảng Nam hò miềm Nam. Khổ nỗi, khi vui hai ngài cũng hát cũng hò, lúc buồn thì lại hò hát lâu hơn, khi mệt thì lăn ra ngái. Có lẽ chịu đời không xong nên Huỳnh Thị Hương ưng đại tên tiểu hiệp Tư Lung để được chàng rước đi chốn sơn lâm khác.

     Nghe đâu bịnh lảng tai và điếc rái của nàng Hương do hậu quả từ những năm tháng đó phải chờ đến khi dọt đến xứ Mỹ, cũng may, chữa trị được đôi phần và cũng tốn bộn bạc. Những năm gần đây, lắm khi nghe nàng Hương to tiếng với Tư Lung, người hiểu chuyện thông cảm vì lảng tai nên hay nói lớn tiếng. Có lẽ do di hưởng của thời đó đến nay.

     Một thời gian không lâu, hai vị Huyền, Miêng thấy đất địa ở đây đã bớt linh, nhất là không còn nàng Hương đãi đằng cơm nước nên bèn dọn đi nơi khác. Hai ngài dời gánh về một cái chái lớn hơn trong con hẻm bên hông chợ Búng. Gần trường nên giờ nghĩ trưa được nhiều người thầy cô chiếu cố. Chốn đó được đổi tên "Tụ Nghĩa Đường", xứng danh hơn vì chỗ mới rộng thoáng hơn một xí. Cũng cái tật ham vui nên cũng là nơi tôi thường lui tới để làm nhiệm vụ kéo màn. Khách vãng lai nườm nượp hơn xưa, nhưng bếp núc lúc nào cũng lạnh tanh. Bù lại, tiếng cười luôn vang như pháo. Cũng bao nhiêu kép cũ, tuồng xưa, câu hò lời hát đó, được lôi ra diễn tiếp. Căn nhà bên cạnh có một cô con gái trông khá xinh nên lắm anh hào nhào tới. Gió câu rộn ràng.

     Lâu lâu được má sai, cô hàng xóm xinh xắn mang qua cho mấy ông giáo ít bánh trái, chè xôi. Thỉnh thoảng bắt gặp bóng cô nép vào cánh cửa sổ bên hông nhà để nghe lén khi đôi song ca Huyền, Định trổ tài. Một chập không lâu, có lẽ vài tháng, nghe đâu cô ưng đại anh chàng nào đó để được về nhà chồng dù là chốn mù khơi để khỏi phải nghe tiếng hò giọng hát của hai thầy. Chàng Miêng ngẫng cổ lên trời than bọng, "Hại bạn! Hại bạn!"

     Tiếc uổng thay! Lỡ làng thay! Nếu biết dùng tài của hai ngài Huyền - Định  thì mấy cơ quan điều tra không cần phải mỏi tay đánh đập, chỉ cần bắt nghe vài lần tiếng hát, câu hò của hai vị thì người bị điều tra sẽ khai hết, không có gì cũng đặt chuyện ra để khai, xin khai.

oOo

     Nói về phần đối đãi với người đời, Thầy Huyền sòng phẳng nếu không nói là rộng rãi. Tôi chưa bao giờ nghe Thầy nói xấu hay gây sự với một ai. Hợp thì thân, không thì sơ. Cà khịa được thì tràng giang thâu đêm, còn không thì Ông leo lên võng lắc lư và bắt đầu tằng hắng vô sáu câu. Lối đuổi khéo nầy hiệu quả như thần, như thuốc dán "Con Cọp".

     Thầy và gia đình lớn của Thầy đối với anh Miêng và tôi, thì lúc nào cũng như bát nước đầy. Những lần về Sàigòn, dù được rủ hay không, chúng tôi cứ nhào vô đại, ăn đậu, ngủ nhờ tại căn biệt thự xinh xắn ở đường Nguyễn Duy Dương, Sàigòn của Ông Bà thân sinh Thầy Huyền. Chén bát nhà nầy mòn đi nhiều cũng do số lần chúng tôi ghé lại ăn chực (đúng nghề của tụi tôi). Phải do lòng tử tế của gia đình chứ không dễ gì một gia đình người Bắc cho hai thằng Nam Kỳ tới nhà ăn dằm, nằm dề và nhất là nhà đang có cô công nương kín cổng cao tường và đang ở tuổi cặp kê. Tôi đoán nhưng không biết có trúng hay không, mới đầu chắc họ thấy là lạ, với ít nhiều bực mình với sự tự nhiên "coi như nhà mình" quá Nam Kỳ của hai thằng tôi. Sau dần, riết rồi, cũng quen và đâm ra thấy cũng thương.

      Nếu cần nói về sự thương quí của Ông Bà thân sinh của Thầy Huyền cho tôi thì phải mất nhiều trang. Tới bây giờ nhắc đến, tôi vẫn còn xúc động khi nghĩ đến lần Cụ Nguyễn Viết Ty, thân sinh của Thầy Huyền, cố tìm ra tôi dù không có địa chỉ.

     Tôi lại càng không ngạc nhiên chút nào khi thấy các em học trò thương kính và quấn quít Thầy Huyền. Ông mang tâm tình và nhiệt huyết của người thầy trẻ, đem hết nhiệt tình và kiến thức để làm công việc của mình. Thêm nữa, Ông bình dân, gần gũi, thân tình, thương quí học trò nên được chúng đáp lại. Thầy rất thành công trong nghiệp dạy học của mình. Phụ huynh học sinh trong vùng cũng nặng tình với Thầy Huyền và anh Miêng. Trường được xây ở giữa ruộng đồng, các em học trò một  số không nhỏ là con em của những người dân quanh vùng. Ở nhà quê, việc giổ quải hay bất cứ cơ hội nào có đình đám là lúc họ mời cho bằng được hai ông giáo nầy. Theo tôi biết, hai ba lần Thầy Huyền được vài bác nhà quê bảo thẳng, "Thấy ông giáo qua thương, nhà qua có mấy đứa con gái, nếu ông giáo thích đứa nào thì qua cho đứa nấy."  Thật là rối ruột, không biết Thầy đã ăn nói khéo thế nào, nếu không thì chắc Ông không tránh khỏi phải vét mấy mương trầu, vun mấy hàng cau xứ Búng.

    Ngoài những ngày vui tại chỗ, những ngày nghỉ hè, chúng tôi có những ngày rong chơi, giang hồ vặt. Nếu phải kể thì có muôn điều. Cuộc rong chơi nào cũng vui và cũng đã để lại một số kỷ niệm chung đáng nhớ.

    Năm năm sau, năm 1974, hình như hơi mệt và chán cuộc đang chơi, rời những lãng du, dứt những si tình cũ, và nhân có cô giáo sợ ế chồng ưng tôi nên tôi bèn xé lẻ, cưới vợ để đẻ cháu cho Ông Bà Nội bồng. Ít tháng sau, có lẽ buồn tình, Thầy Huyền tuyên bố rửa tay gác kiếm, cưới một cô bác sĩ, không biết gieo duyên tự bao giờ, làm vợ.    

oOo

     Khi ngồi xuống gõ những dòng nầy thì tôi định chỉ kể về Thầy Huyền, tuy nhiên, không nhắc một chút về tôi và tên hảo hán Trần Tấn Miêng thì e hơi thiêu thiếu, dòng sống giữa hai ngài và tôi gắn liền với nhau trong nhiều năm sau. Không hiểu keo sơn nào đã gắn chặt ba đứa chúng tôi! Nên xin cho kể thêm một chút về tên hảo hán Miêng. Ngắn lắm, vài phút thôi.

     Hảo hán Trần Tấn Miêng là một nhân vật lạ. Muốn biết lạ ra sao thì ráng đọc hồi sau đây sẽ rõ.

     Số là sau hai mươi năm nổi trôi, lang bạt, năm 1999, tôi về lại quê nhà gặp anh Miêng và một số bạn cũ tề tụ tại nhà anh. Nguyễn Thanh Nhàn, lại một tên hảo hán khác của trường NLS Bình Dương, sẽ kể về tên nầy ở tập khác khi có dịp, rề rề nói (tôi lập lại nguyên văn vì tôi còn nhớ khá rõ): "Thường thì ai sinh ra, mới đầu đỏ hỏn gọi là hài nhi, lớn dần thì gọi là em bé, trọng hơn một chút, nếu là con trai thì gọi là thằng nhỏ, sau đó là thanh niên, trung niên, rồi mới già, rồi mới chết, còn thằng Miêng sinh ra thì nó đã già rồi, nếu lúc nào nó muốn chết thì nó giãy ra mà chết, chứ đâu nó còn chỗ nào nữa để mà già, để mà chết."

     Vợ con anh Miêng nép sau cột nhà hay cánh cửa cười lén, còn đám bạn quý của anh thì chỉ muốn bò lăn ra cười hô hố cho nó đã. Vẫn tật xưa, tía tai, đỏ mặt, không biết làm sao, anh quay qua quát mắng vợ con, "tụi nó chọc tui mà bà và mấy đứa nhỏ cũng cười để tụi nó làm tới." Mà tay Nhàn thì có vừa gì, sẵn đó tới luôn, tiếng "già" được tên Nhàn kéo dài ra cả trăm thước, làm già đi khuôn mặt vốn cằn cỗi của anh Miêng. Chúng tôi cười đùa thoả thê. Có dịp để trẻ lại, sống lại một thời, chỉ vừa mới đây mà đã bay huốt.

     Không biết nợ nần nhau từ kiếp nào, để Thầy Huyền và tôi khổ lụy vì anh Miêng. Việc kiếm vợ cho anh hình như là bổn phận của những người quen biết anh. Gặp đàn bà, con gái nào, chúng tôi đều nghĩ đến anh.  Đã giới thiệu cho anh một vài đám nhưng không đám nào anh ưng bụng. Không biết anh giống ai và mắc chứng bịnh gì, những người anh vừa bụng thì toàn là tiên nga giáng thế cả. May cho họ nên chả có ma nào chịu anh. Thấy ghét! nên tụi tôi cho qua luôn, bỏ mặc để anh ế phờ râu. Nhưng thấy sự côi cút của anh, tụi tôi chịu không nỗi và lại phải ra tay tiếp. Khổ nỗi, anh cũng không biết thân để chịu xuống giá!

     Trời xui, đất khiến để cho tôi được quen với một cô Bắc Kỳ, Nguyễn Thị Đan Tâm. Cô nầy vừa xinh vừa thông minh. Cô chuyên trị môn Văn và Triết của Trường Trung Học An Mỹ (cách Búng khoảng 10 cây số). Lần đầu đưa anh đến nhà cô Tâm ở Gia Định chơi, để làm quen với ý đồ. Không hiểu câu chuyện đong đưa thế nào để cô buột hỏi tuổi của anh. Bị dụng vào chỗ nhược, mặt anh Miêng lúc đó đỏ gay. Tôi gượng gạo đỡ lời, "Anh ấy còn trẻ chán, mới có sáu mươi mấy." Những tưởng  cách nói quá sự thật sẽ làm cô hiểu ý, nhưng vốn thật tình, (không hiểu sao tôi lại tốt số để có nhiều bạn thật tình đến thế.) Với chút e thẹn, Tâm bảo, "Anh chỉ phải lúc nào cũng pha trò, làm gì mà anh ấy già đến thế, nhiều lắm thì khoảng bốn mươi hơn."  Lúc ấy tôi muốn tìm một cái giếng để chúi mõ xuống mà la trời, "con người ta chỉ khoảng 27, 28 tuổi thôi bà nội!"

     Quay qua ngó anh Miêng, mặt anh đổi màu từ đỏ ra tía, dở khóc, dở cười. Tôi than thầm, cô Đan Tâm ơi! Lẽ ra tên của cô cần thêm chữ "g". Không cần gươm, không cần dao, lời của cô đã đưa ông bạn tôi xuống tận tầng địa ngục.

     Đường về Bình Dương hôm ấy, tôi chở anh về, phía sau không có kéo theo cỗ quan tài nào, nhưng đang tôi chở một người có khuôn mặt của kẻ đưa đám.

      Những lần cô Tâm ghé qua nhà tôi để ngủ tạm qua đêm trong những ngày cô lên dạy ở An Mỹ, cũng là những buổi gặp mặt vui đùa, chàng Miêng đánh hơi tìm đến. Có nhiều dấu hiệu khích lệ cho anh. Lâu lâu hỏi thăm thì được anh cho biết là cô em có vẻ chịu đèn, chút hứa hẹn ở khoảng trời mù xa.

    Khi thấy Thầy Huyền và tôi "mồ yên và mả vừa mới xây" thì anh Miêng lúc nào mặt cũng chao dao, ngồi đứng không yên như gà mắc đẻ. Xót cho anh nên tụi tôi hỏi tới, thì anh cho biết thêm là hai bên đã chớp đèn dữ dội rồi, nhưng còn có điều khá gay go là gia đình Bắc Kỳ nầy chỉ có một mình cô là con gái rượu duy nhất, và là chị cả, trong khi má của anh Miêng là người Nam ở tuổi quá già và không có quen ai đứng ra may mối. Thầy Huyền và tôi đánh liều làm một chuyện tày trời đến nhà gái xin nói chuyện dựng vợ gả chồng cho đôi trẻ. Không rõ phép mầu nào đã ban cho chúng tôi có môi miếng để mà nói trôi và làm xiêu lòng Ông Bà song thân của cô Tâm, và được họ chấp thuận cho việc tác hợp nầy trong vòng vài tháng sau. Bà con xóm giềng, bè bạn, ai cũng thở phào, "cụ Miêng có dzợ rồi!"

     Thế là cả ba chúng tôi, cưới vợ cùng năm, chỉ cách nhau năm ba tháng, cuộc đời của ba chúng tôi đã sang trang. Khang trang hay nghĩa trang!? Chúng tôi miệt mài trong cuộc phiêu lưu mới.

    Năm 1975, một khúc quanh lớn của đất nước, thay đổi lớn cho nhiều cuộc đời, chúng tôi cuốn trôi theo dòng nước dậy sóng đó. Tôi rời phố thị để "du học" từ góc rừng nầy đến đồng hoang khác. Thầy Huyền rời "Tụ Nghĩa Đường" về Sài Gòn, ôm ấp người vợ trẻ và làm công việc được giao cho ở Quận Tám. "Tụ Nghĩa Đường" nay thành tổ ấm của đôi uyên ương Tâm Miêng. Cả hai vợ chồng anh vừa đi dạy, vừa nhảy vào thương trường buôn bán đủ thứ, có dạo bán thuốc lá lẻ theo bến xe ở chợ Búng.

oOo

     Dòng đời cứ thế mà trôi và đâu cũng vào đó một cách lộn xộn. Bề bộn hơn, ba năm sau, tôi tốt nghiệp với mảnh bằng thợ đẳn cây, cuốc đất được cho về nhà để thu xếp gia đình đi vùng kinh tế mới. Hay tin, Thầy Huyền lên thăm tôi. Sau phần hỏi thăm vô thưởng, vô phạt với giọng nói vẫn vang rềnh như ngày xưa, nhưng khi câu chuyện tới chỗ "ly kỳ" vì sợ hàng xóm và anh Cu Cà Quẹo ở kế bên nhà tôi - tai mắt của công an - có thể nghe được, Thầy Huyền ráng hết sức để nói nhỏ bằng cách thều thào, "mầy nghĩ sao, còn tao theo gương bác". Ngó quanh, gật đầu, tôi đáp khẻ, "thượng sách, nhớ rủ."

     Những tháng đầu về với vợ con, tôi tìm được một số việc vặt như đào ao, vét mương, đan giỏ, phơi cán chổi... Ai mướn làm gì làm nấy, ra sức "lao động tốt" để chứng tỏ là "con người mới của XHCN" cũng như ráng khất lần việc đi kinh tế. Những lúc thức cũng như lúc ngủ, đầu tôi luôn hướng ra biển và van vái lung tung xà bèng và luôn hát thầm bài hát "Nếu là chim thì tôi sẽ ...".

    Những ngày trống việc, vì bị quản chế tôi không được đi đâu, chỉ được ra vô trong căn nhà chật nên lắm khi muốn khùng. Có hôm quá quẩn, tôi đánh liều lấy chiếc xe đạp chạy lòng vòng trong xóm và khi biết chắc không có đuôi, thì gò lưng đạp xe qua mấy con dốc, chạy tuốt xuống chợ Búng tìm anh Miêng. Khi đi, tôi không quên xúc theo nửa lon gạo để hùn với vợ chồng anh nấu cháo lỏng ăn trưa.

     Khi đó thương trường đang hồi cạnh tranh khá khốc liệt, càng bị cấm, càng có nhiều người bán; vợ chồng anh làm sao nhanh chân bằng mấy cháu nhỏ, có đứa vốn hoặc đang là học trò của cả hai nên những ngày họ ngồi nhà ngáp dài, đuổi ruồi nhiều hơn. Gặp nhau cũng chẳng biết nói gì, mà nói thì dễ đi được đưa đi "du học" tiếp, do đó  tôi và anh Miêng thường châu đầu vào những con cờ, đánh độ, khi thì hủ tiếu, khi thì bánh bao, lúc kí thịt. Chế ra cho vui thôi chứ những ngày xơ mướp ấy có cháo đặc để mà ăn đã là ước mơ to tát rồi, lấy gì mà chung cho sự thắng thua. Tâm thì xanh khướt, tong teo ngồi kế bên góp phần với những nụ cười héo hon khi nghe chúng tôi chọc quê lẫn nhau bằng những lời khùng điên, dở hơi của những kẻ mạt kiếp, lỡ thì. Biết chỗ nhược của anh, cộng thêm một chút võ mồm nên tôi thường hay thắng. Tôi luôn lạy trời cho anh Miêng khá hơn để chung tôi những tô hủ tiếu và những cái bánh bao mà anh còn thiếu chịu, chưa chung trong những ngày ấy.

     Hình như khoảng gần một năm, chúng tôi nghe tin U Huyền (tên mà anh Miêng và tôi gọi Thầy Huyền, không biết khởi từ đâu và bắt đầu tự lúc nào) đã ra biển. Vài tháng sau, tôi nối gót. Còn vợ chồng anh Miêng thì vẫn ở chợ Búng, vẫn tiếp tục làm công việc dạy học, đồng thời miệt mài trong thương trường khốc liệt ở chợ Búng cho đến nhiều năm sau. Thời ấy, ở chốn xa xôi nầy, nhất là những ngày mưa rào, tôi liên tưởng đến hình ảnh gầy còm của vợ chồng anh đang lủi thủi ở bến xe chợ Búng và mong rằng bên ấy trời quang mây tạnh.

oOo

     Thoát đến chốn nầy, biết Thầy Huyền đang ở đâu đây, chẳng những tôi mà cả gia đình tôi đều cố công tìm kiếm. Vì nghĩ cô Tâm, vợ Thầy Huyền cũng tên Tâm, vốn là bác sĩ ở bệnh viện Chợ Rẩy, sẽ hành nghề lại nên chúng tôi lần mò từ dấu tích đó. Hỏi cùng bên Canada, bên Mỹ, bên VN, đăng báo, và có dịp đi tới thành phố nào bên xứ Mỹ chúng tôi cũng gọi điện thoại các văn phòng bác sĩ để hỏi cầu may, nhưng tin về Thầy vẫn bặt. Mẹ tôi lâu lâu lại nhắc, sao tụi con không tìm Thầy Huyền. Còn ba tôi thì hay đi đó đây và luôn để ý. Có lần ông hụt hơi dí theo một người trông hao giống Thầy Huyền. Sự kiên tâm nào rồi cũng được đền bù, mười bảy năm sau, chúng tôi mới liên lạc được với Thầy trong một tình cờ khá ngộ nghỉnh (chi tiết khá dài nên thôi không kể.) 

     Thầy ở gần mà xa, cách nơi tôi ở khoảng hơn mười tiếng lái xe. Cô Thầy cùng cháu gái út sang tôi chơi trong dịp cuối tuần. Thầy Huyền vẫn vậy, vẫn phương phi, rổn rảng, sang sảng, vui đùa, cà khịa y chang như ngày nào.  Những ngày cũ được nhắc lại, khoảng đời vắng nhau được kể lể và nhân vật Miêng, Tâm được nhắc khá nhiều. Lần tao ngộ kỳ thú nầy là niềm vui của cả đại gia đình chúng tôi. Cô Tâm, vợ Thầy Huyền, bảo là lâu lắm mới thấy Thầy vui trọn vẹn như vậy. Vốn biết người Bắc hay nói khéo nhưng tôi tin và muốn tin điều Cô Tâm nói. Trong tôi, sự reo vui không chỉ ở nỗi niềm "tha hương ngộ cố tri", xa hơn, trong tâm tình, "cửu hạn phùng cam vũ", quá đã, nắng hạn lâu ngày, gặp cơn mưa rào trút nước.

     Vì ngày nghỉ chưa xin được nên gia đình Thầy phải quay về sau hai ngày lưu lại. Hẳn nhiên  không đủ và chưa đã nên vừa về nhà chẳng được mấy ngày, Thầy Huyền năn nỉ vợ con để xin qua tôi chơi tiếp. Được phép của Cô là Thầy dông liền. Qua đây chơi một mình và lưu lại một tháng hơn, ngay trong xung họp gia đình, Noel và tết Tây. Biết bao điều để kể lể, để nói về, chuyện ngoài khơi, chuyện trong bờ, chuyện trên trời, dưới đất, đó đây, người nầy, kẻ nọ... Qua đó, chúng tôi được biết Thầy bị bệnh ung thư và bác sĩ chuyên khoa cho biết là Thầy chỉ sống thêm 5 năm thôi. Chừng để chúng tôi yên tâm, Ông cười khà khà bảo, sáu năm qua rồi, có sao đâu, tao khỏe như trâu, và ngâm nga "ta không chết đâu em..."

     Những ngày tháng tiếp nối, chúng tôi liên lạc thường bằng điện thoại. Bảy, tám tháng hay một năm sau thì vợ chồng con cái và có cả ba tôi qua thăm. Thầy khỏe và vẫn đi làm. Thăm nhau mới biết đời sống của nhau. Cô Thầy chọn đời sống thật giản dị và gần như một nhà tu tại gia. Sinh hoạt trần thế vẫn giữ nhưng hồn thì trao trọn cho Phật. Phòng khách nhà Thầy được sắp xếp thành một nơi thờ phượng. Nơi đó, Thầy Cô và mấy cháu ngồi tỉnh tâm, thiền và đọc kinh mỗi buổi sáng và tối. Mỗi năm cả gia đình dùng ngày nghĩ hè đến Làng Hồng (Pháp Quốc) để học đạo, tu tâm. Ông dùng thì giờ trống của mình đỗ tượng Phật để biếu người quen. Tôi và nhiều người quen của tôi cũng được hưởng phần.

     Gia đình chúng tôi rất cảm động và luôn biết ơn cho ân cần và sự quan tâm của Thầy, nhất là  lúc vợ tôi bịnh nặng. Thầy thường gọi điện thoại và viết thư sang để thăm hỏi, an ủi, nâng đỡ tinh thần chúng tôi và tế nhị giảng giải cho vợ tôi lời dạy của Đức Phập, lẽ vô thường của kiếp nhân sinh. Những lá thư được đổ đầy ân tình chân thật, lòng thương quí của một người anh và sự thông tuệ tâm linh của một người Thầy, của một đạo sư.  Kèm theo, chúng tôi nhận khá nhiều kinh, sách do Thầy Cô gởi biếu. Ân tình tiếp tục chất chồng, tiếp tục đậm sâu.

     Hai năm sau, bệnh của Thầy tái phát và nặng dần. Tôi có xin qua thăm nhưng Thầy cứ khất lần, "Để vài tháng nữa, gọi thăm tao bằng điện thoại cũng đủ rồi, tao biết mầy bận, tao không sao đâu." Chúng tôi thường đọc cho nhau nghe thư của vợ chồng anh Miêng viết sang. Khi nghe tôi đọc một đoạn thư của Đan Tâm, vợ của anh Miêng, cám ơn chúng tôi đã giúp cho việc tác hợp của vợ chồng cô, với giọng nói yếu hẳn, Thầy cho biết, là Bắc kèo nên tao hiểu Bắc kỳ, nó mắng khéo tụi mình đấy, mầy viết thư về cho thằng Miêng bảo nó liệu hồn, không khéo thì tụi mình bắt con Tâm lại và đem gả cho thằng khác. Sau lời nói đùa, Ông cười dòn kéo theo một tràng tiếng ho. Tôi nghe ngực mình đau nhói.

oOo

     Sau hai mươi năm ngoảnh mặt ra đi, dù không khỏe lắm và nối dính với dây nhợ, bọc bị, Thầy Huyền đã lần lối xưa, tìm về chốn cũ. Thầy gặp lại vợ chồng anh Miêng, bà con xóm giềng, thăm một số học trò cũ.  Nghe Thầy kể lể về chuyến đi đầy ấp những vui buồn, tôi hình dung được nụ cười, niềm vui mãn nguyện của Thầy. An ủi tôi, Thầy bảo, "tao ở gần mầy, mình sẽ gặp nhau mà."

     Càng về sau, cơn bịnh không thuyên giảm và có phần nặng hơn. Tôi nài nỉ xin đi thăm nhiều lần nhưng lần nào cũng bị Thầy khước từ và tiếp tục khất lần, "mai mốt đi, tao không muốn vợ chồng mầy đau xót khi thấy sự tiều tụy, xác sơ hiện nay của tao, nếu có chuyện gì thì hãy giữ lại hình ảnh ngày cũ của."

     Tôi không thể làm gì khác hơn, đành phải chiều ý Thầy.

     Đầu thu 2001, chỉ còn vài ngày nữa chúng tôi đi xa, chuyến đi chuẩn bị từ nhiều tháng trước. Nghĩa, em của Thầy Huyền, gọi sang cho biết Thầy đã đồng ý cho thăm. Định bụng khi về, chúng tôi sẽ qua thăm nhưng định mệnh không cho chúng tôi ân huệ đó.

     Nhận tin Thầy mất vào một ngày mưa dầm khi chúng tôi đang ở Hòa Lan. Dù trước đó được Cô Tâm, vợ Thầy cho biết ngày phải chia tay với Thầy dần đến và không xa, nhưng tôi nhận tin buồn đó trong niềm hụt hẩng chụp đến, nhói ngực, xé lòng. Chừng như muốn san sẻ nỗi đau buồn mất mát quá lớn của chúng tôi, màu xám ảm đạm của mây mưa thu đầu mùa xứ lạ, tầm tã kéo dài. 

     San sẻ một đoạn thư Thầy Huyền viết trong những ngày cuối đời, cho chúng tôi và hình như Ông cũng ngầm gởi gắm cho những ai bắt gặp trong đời, "Lúc nào tao cũng cám ơn đời, đã cho chúng mình sinh ra cùng một thời, biết nhau và nhận nhau là anh em. Tao mong tụi bây và những người từng quen biết tao, hãy giữ lại những thân tình và những hình ảnh đẹp nhất của nhau."

"Xin chào nhau giữa con đường
 Mùa xuân phía trước miên trường phía sau" 

(Thơ Bùi Giáng)

Vương Thế Đức
Đầu Xuân 2007
(Trích Đặc San NLSBL 2007)