"Quê tôi nằm cạnh sông Tiền
Bị chàng dụ dỗ lên miền Bình Dương!"

Thị xã Thủ Dầu Một thuộc tỉnh Bình Dương nằm cách Sài Gòn khoảng 30 cây số về hướng đông. Đến ngay trung tâm thành phố là bùng binh ngã sáu, qua khỏi đó là "ngả tư giếng nước", dù từ ngày tôi đến tôi chẳng thấy giếng nước nào cả. Nếu đi thẳng thì đến cầu ông Đành, bên mặt là nhà thờ, bên trái là đường Ngô Quyền. Đường nầy dẫn đến bờ sông, nên là một trong những con đường quan trọng của tỉnh, và trên đường đó có căn nhà mang số 13.

Nhà mang số 13 đường Ngô Quyền là căn nhà khá rộng, mái ngói vách ván, có cổng và rào giậu chung quanh nên nhìn cũng khá khang trang. Chủ nhà là một cặp vợ chồng gốc người miền Bắc đông con (tám người con) mà chỉ có ông đi làm thư ký cho ngân hàng nông nghiệp tỉnh nên muốn vì muốn có thêm thu nhập cho gia đình ông cùng cậu con trai lớn cất thêm phía sân sau năm căn phòng cho thuê. Năm căn đều quay mặt ra phía trước là phía sau nhà ông theo một dãy dài, nền ciment, mái lợp tole, vách ván thông, trông cũng gọn gàng dể nhìn.

Tôi là một cô giáo mới ra trường sư phạm khoá hai của Nha Học Vụ NLS, lở dại nghe lời chàng Đặng Tấn Lung "dụ dổ" nên ráng mọi cách để được về trường trung học NLS Bình Dương nằm tại Búng, cách Sài Gòn khoảng 15 cây số, là một trường lớn được thành lập sau trường Bảo Lộc, Cần Thơ và Huế. Chúng tôi tốt nghiệp cuối năm 69, lớp Canh Nông thì có Vương Thế Đức (NLS Bảo Lộc), Tấn (NLS Cần Thơ) đưọc ưu tiên về tỉnh nhà, Trần thi Ngọc (NLS Bảc Lộc) về trường cộng đồng Đông Ba (Lái Thiêu) và tôi, Huỳnh thị Hương (NLS Bảo Lộc) về trường An Mỷ cách thị xả Thủ dầu Một khoảng 7 cây số. Lúc chúng tôi được bổ nhiệm trường Đông Ba và An Mỷ chưa tuyển học sinh vào trung học nên chúng tôi tạm thời làm việc tại trường NLS Bình Dương. Mặc dù được về trường gần Sài Gòn mà tôi không phải dân SG, quê tôi ở Kiến Hòa, Tiền giang, nên tôi không thể đi về mỗi ngày như nhũng thầy cô giáo khác, mà ở lại Bình Dương thì tôi lại không có thân nhân hay quen biết với ai cả. Lúc đầu tôi tạm ỏ trọ nhà cậu của anh Lung nhưng đã quen sống độc lập từ ngày ở nội trú trên trường NLS Bảo Lộc nên tôi cảm thấy không được thoải mái lắm mà xứ lạ quê người đành phải "giao trứng cho ác" là anh chàng Vương Thế Đức.

Quê của Đức là Bình Dương, Đức là dân thổ công ở đây nên tôi nhờ Đức đưa đi tìm nhà trọ. Nhà của Đức ở phía sau nhà thờ, Đức nghe đồn có phòng cho thuê nên Đức đưa tôi đến xem, thấy căn phòng cũng riêng biệt, ngăn nắp sạch sẻ nên tôi bằng lòng ngay và chọn căn ở ngay giữa, vì bên bìa phía mặt là của cặp vợ chồng son, còn bìa bên kia là của ông võ sư nhu đạo, tôi ở giữa, hai bên còn hai căn trống. Tôi dọn về căn nhà đầu tiên của tôi chỉ vỏn vẹn có cái giường sắt nhỏ và một túi quần áo mà tôi chở xe đò từ SaiGon lên và thuê xe thổ mộ kéo về. Những ngày đầu tiên tôi phải nhờ Đức đưa đi mua sắm. Với số lương mới ra trường sau khi trừ tiền mướn nhà, tôi và Đức phải chạy lòng vòng cả mấy ngày trời mới mua được 1 cái bàn và 2 ghế nhỏ, bếp dầu hôi, nồi nêu chén bát ....mắm muối ... và một cái thùng gổ to. Đức phụ tôi đóng mấy ngăn ngang, 2 bản lề bên hông thùng làm cánh cửa để biến cái thùng thành một cái tủ đựng quần áo. Tôi may một cái màng kéo ngang để có đưọc phòng ngủ và phòng khách, dán giấy lên vách nhà và tủ để trang trí cho căn phòng thêm lịch sự và ấm cúng. Thế là tôi có được một tổ ấm rất dể thương để tiếp bạn bè và Lung thỉnh thoảng ghé qua trên đường về từ Phước Long, nhiệm sở đầu tiên của Lung.

Đến đầu năm 70 đã tuyển học sinh vào An Mỷ nên tôi và anh Nguyễn Hoàng Minh (NLS Bảo Lộc, khoá 2 sư phạm ban Thủy Lâm) cùng về An Mỷ, đến năm 71 Lung cũng được thuyên chuyển về, chúng tôi cùng làm việc cho đến năm 1975.

Sau khi tôi ở nhà số 13 đường Ngô Quyền vì hai bên còn 2 căn trống nên tôi rủ Phan Ánh Tuyết (NLSBảo Lộc), học trên tôi một lớp, kiểm sự canh nông làm việc ở ty Nông Nghiệp Bình Dương bên bờ sông gần đó và anh Trần Tấn Miêng (NLS Bảo lộc) mướn 2 căn ở hai bên tôi. Tuyết có nhà ở SG nhưng là công chức nên cuối tuần mới nghỉ về nhà. Riêng anh Miêng về dạy ở trường trung học NLS Bình Dương trước tôi nhưng vì không có nhà cửa nhất định nên lang thang sống vất vưởng khắp nơi, nay thì ở Búng, lúc thì tá túc nhà Đức hoặc bạn bè khác. Anh vừa dạy công vừa dạy tư nên tiền nhiều lắm nhưng không biết sao mà lúc nào anh cũng nghèo. Nhà anh chỉ có chăn và mềm để về là chui vào ngủ vậy mà lúc nào anh cũng có khách. Mấy thầy giáo độc thân lười về SaiGon nên theo anh về ngủ tạm, trong số đó thường trực có thầy Nguyễn Viết Huyền và  thầy Phan Quang Định (lúc mới ra trường hai thầy có dạy ở Bảo Lộc). Trước thì ở trọ nhà Đức sau theo anh Miêng nên Đức cũng tháp tùng luôn tới chơi cho rậm đám. Nhiều khi thấy anh Miêng đi làm về đói meo nên tôi tội nghiệp nấu cơm cho anh ăn, sau tôi có xin cho anh hai cái giường nhà binh và đề nghị cứ mỗi tháng lương anh ngắt ra một ít giao cho tôi để anh không phải ăn chay nằm đất nữa. Từ đó tôi trở thành cô giáo nấu cơm tháng cho một đám thầy giáo độc thân. Trường Đông Ba và An Mỹ vẫn thuộc vào trường Bình Dương nên những lúc có cuộc thi như thi tuyển, thi lục cá nguyệt, thi tú tài ... nên tất cả các thầy cô giáo đều tụ họp lại để gác thi và chấm thi. Một số bạn bè cô thầy giáo thân thích kéo lên ở lại nhà tôi và nhà anh Miêng. Chúng tôi nấu cơm làm đồ nhậu, bày bàn ra sân để cùng nhau ăn uống, nhậu nhẹt, đàn hát như những ngày còn sống trên trường NLS Bảo lộc. Chúng tôi sống rất vô tư và tình bạn của chúng tôi rất là chân thật. Chúng tôi đã san xẻ nhau những buồn vui, khó nhọc mà chúng tôi gặp phải khi mới bước chân vào đời. Tôi đã sống ở đó 2 năm, hai năm thật là trọn vẹn và khó quên.

Sau khi tôi và Lung thành hôn thì chúng tôi dọn ra và nhường căn nhà đó lại cho một cô giáo mới ra trường về dạy ở NLS Bình Dương. Từ đó tôi không còn có những bửa cơm tối nơi sân nhà số 13 nữa. Những bửa cơm thanh đạm, nấu nướng vụng về và thiếu thốn. Tuy chúng tôi không có chén bát sang trọng, phòng ăn với bàn ghế ngăn nấp nhưng chúng tôi có trăng có sao, có những tiếng cười đùa không ngớt của một đám người độc thân không đua chen, tranh gianh hay gây phiền toái cho nhau. Đến nay tôi không biết là anh chị nào đã một lần ghé qua có còn nhớ và nhắc đến không? riêng tôi đó là  một kỷ niệm đẹp mà tiềm thức lúc nào cũng muốn quay về. Tôi đã đi thật xa và sống rất nhiều nơi, tôi cũng đã gặp rất nhiều người nhưng lúc nào tôi tôi cũng trân quí cái hạnh phúc mà tôi đã có lúc đó để đến hôm nay tôi còn tồn tại mà ghi chép lại một chút gì đã qua mà rất đáng nhớ.

Huỳnh Hương,
Đầu năm 2007, 
San Jose, CA
Trích ĐS 2007