Dùng nút điều khiển để nghe nhạc hoà tấu bản "Candle In The Wind" bởi ban nhạc Richard Clayderman
 

     Khi tôi nhập học năm đầu, lớp đệ tam trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc thì Thầy Hiệu trưởng Nguyễn Viết Trực vừa nghỉ hưu và Thầy Nguyễn Thanh Vân thay thế. Thầy có dáng người cao, gầy, gương mặt xương, trông vừa cương nghị, vừa bướng bỉnh. Thầy thường ăn mặc loàng xoàng, chiếc áo sơ mi ngắn tay, chiếc quần gin bạt màu, đôi săn đan xọp xẹp và đặc biệt là hay mang kính râm. Phong thái nghệ sĩ, ngang tàng, bất cần đời ở Thầy nhiều hơn là phong cách của nhà mô phạm. Phải mất nhiều tháng sau, tôi mới được nhìn kỹ Thầy trong một khoảng cách gần và đọc được nụ cười mỉm, khoan hoà tiềm ẩn trên khuôn mặt đượm chút “băng giá” của Thầy.   

      Đến khoảng giữa năm đệ tam, lớp tôi được Thầy Vân dạy thế một buổi, môn toán. Đây là lần đầu tiên lớp tôi được học với Thầy Hiệu Trưởng nên hình như cả lớp ai cũng ngoan hơn và nhất là tôi, một học sinh mới còn lạ cảnh, lạ người. Buổi học nầy đã ghi lại ở tôi một kỷ niệm khó quên về Thầy.

     Vào lớp không sách, không vở, không nụ cười, không mào đầu, Thầy miên man giảng và quệch quoạc trên bảng đầy những hàng chữ, con số. Lớp học im đến độ ngộp thở. Tôi ngồi ở dãy ghế đầu phía cửa sổ, cố chú tâm nghe, nhưng chẳng hiểu được gì. Đoán mò, tôi nghĩ chắc là do dạy thế bất tử nên "ổng" không soạn bài và đảo mắt liếc nhìn các bạn khác hình như ai cũng lững lơ, mờ sương như tôi. Tôi chuyển sự chú tâm của mình, thả hồn bổng bay theo đám mây trôi ngoài cửa sổ, lắng nghe tiếng gọi bầy đàn của mấy chú chim, quan sát chúng chao liệng hay đậu trên những cành điệp hoa vàng, âu yếm rỉa cánh cho nhau.

     Chẳng biết bao lâu, bỗng hồn tỉnh, vía lai khi thằng bạn kế bên đá lén chân tôi. Tôi thót người khi nghe lời quát hỏi tên của Thầy, tôi bắt gặp đôi mắt của Thầy - kính râm đã được gỡ ra - và mấy chục đôi mắt đầy lo lắng, xót thương của các bạn cùng lớp, những người đang chứng kiến cảnh pháp trường, mà kẻ tử tội là tôi. Lật đật đứng lên, tôi thưa tên và ú ớ trả lời mấy câu hỏi về bài giảng. Tôi đứng lặng trơ ra, lắng nghe những lời phán tội. Hai con số "không" tôi nhận được như hai viên đạn ban phát cho tên tử tù. Tử khí lan dần, Thầy gọi vài bạn khác nhưng họ chẳng làm Thầy vui hơn với những câu trả lời ấp úng, ngẩn ngơ. Chợt tiếng kẻng báo hết giờ. Trước khi rời lớp, Thầy nói: "Không hiểu về nhà dỡ sách đọc." Đó là buổi học duy nhất Thầy dạy lớp tôi.

     Tuy buồn xo, nhưng tôi biết tội mình, nên không ta thán, chỉ có điều, phải chi có vài tên cùng bị "ốc vịt" như tôi thì chắc tôi đỡ tủi thân hơn. Hôm đó tôi chìm sâu xuống địa ngục trong đơn lẻ.

     Chừng một tuần sau, một lần nữa, tôi lại được chiếu tướng, trực diện với Thầy Hiệu Trưởng nhưng lần nầy do tôi tự nguyện tìm đến.

     Số là mỗi chiều, một ít học sinh của trường hay thả rong ra phố, mua đồ dùng hay tản bộ theo bờ hồ, hoặc sang hơn thì ăn uống, nghe nhạc ở mấy quán cà phê ngoài phố. Nước hồ ngoài phố Bảo Lộc vốn êm nhưng cũng có ngày dậy sóng. Một số anh chị có máu mặt của trường, không rõ cớ sự, đã đánh lộn với thanh niên học sinh ngoài phố và rút êm vô khuôn viên trường khi bị dí nà. Ngay hôm sau, một thông báo lệnh cấm của Thầy Hiệu Trưởng không cho học sinh ra phố trong những ngày thường, cuối tuần thì được phép ra nhưng phải về trường trước sáu giờ chiều, ai bất tuân sẽ bị nghiêm phạt, và có thể bị đuổi học.

     Khốn cho tôi rồi! Không như phần đông các bạn cùng trường là các cô cậu ấm của các gia đình "Công Hầu", "Hoàng tộc", tôi là con của hàng thứ dân lại thêm cái tội nghèo. Tôi phải tự mưu sinh ngay những ngày non trẻ ấy. Chiều chiều, tôi gò lưng trên chiếc đạp trành do gia đình của một "bá tước" địa phương cho mượn để làm phương tiện đến tư thất của ngài ở ngoài phố chợ để dạy kèm cho ba cô cậu ấm, tuổi từ bảy đến mười hai. Cơ cầu lắm tôi mới tìm được việc nầy sau vài tháng nhập trường. Số tiền thù lao tuy rất ít, chỉ đủ trang trải một phần tiền cơm, nhưng bù lại, mỗi lần mở cổng cho vào ra, cô nương tiểu chủ đã ban cho đôi lời thỏ thẻ và nụ cười má lún. Chỉ bao nhiêu đó thôi đã làm dịu đi nỗi mệt nhoài gò lưng leo dốc. Từ dạo ấy, tôi bỗng thấy cuộc đời hưng phấn hơn. Nếu thân xác không do cơm gạo để có thể thở và sống còn thì tôi tự nguyện sẵn lòng đến nhà nàng gánh nước, chẻ củi, nấu cơm không lương; xá chi công việc nhẹ nhàng, dạy kèm các em nàng. 

     Tôi đọc lệnh cấm trên trong tâm tư của kẻ sắp bị hành hình dưới khung thành treo cổ. Lo lắng nợ cơm áo một phần, phần khác tha thiết hơn là không còn được nghe tiếng oanh thánh thót và không được nhận nụ cười má lún của cô tiểu chủ, tôi bèn viết "đơn thỉnh nguyện Morizt", tên của nhân vật trong "Giờ thứ 25", kêu cứu với Thầy Hiệu Trưởng.

     Tôi không rõ tôi đã viết những gì, ngôn từ của những ngày trẻ dại ấy! Nhưng có lẽ cũng kêu lên được, tiếng não nề đau đớn của con thú bị thương. Chỉ vài giờ sau khi nợp đơn, tôi được lệnh gọi lên văn phòng Hiệu Trưởng. Thầy cho tôi chờ một khoảng hơi lâu trong lúc Thầy dán mắt vào lá đơn của tôi, dù chỉ vỏn vẹn một trang. Thầy hỏi tôi một số câu hỏi về gia cảnh, về công việc và số lương dạy kèm của tôi. Nghe một cách chăm chú và chừng như đủ, ông ngó tôi và thở dài. Từ ánh mắt và âm thanh của tiếng thở dài đó, tôi đoán được phần nào những gì sắp được nghe. Ánh mắt và tiếng thở dài đó, sau hơn bốn mươi năm vẫn còn trong tôi.

     Tôi được cho biết, qui định chung không thể xét riêng cho ai, dù là qui định tạm thời nhưng phải mất ít nhất vài tháng. Tiếp lời, Thầy bảo để dạy bữa chót, chiều nay tôi lên văn phòng sẽ có người đưa ra phố và rước về. Hôm đó, chính Thầy Vân đưa và rước tôi. Tôi không rõ Thầy đã nói gì với chủ nhân nhưng khi tiễn tôi có cả gia đình. Mấy cô cậu học trò nhỏ của tôi rươm rướm nước mắt khi biết tôi không còn đến với mấy em nữa. Cô chị, không nói gì nhưng nhìn tôi với ánh mắt làm tôi chết ngộp. Tôi có cảm tưởng buổi tiễn ấy là buổi tiễn đưa người sắp vào vòng lao lý. Thật vậy, từ dạo đó, tôi không được thong dong dù là nỗi thong dong gò lưng leo dốc, để nhận nụ cười xinh xinh của nàng.

     Được gọi lên văn phòng hôm sau, Thầy đưa tôi một bao thư trả công do chủ nhân trao cho. Số tiền nhận được nhiều hơn so với tiền lương làm cả tháng,. Dù tháng nầy tôi chỉ mới làm được khoảng hơn hai tuần. Tôi thưa với Thầy và Thầy bảo, có lẽ do họ biếu tôi. Cho đến nay, tôi vẫn nghĩ, một phần trong số tiền đó có tiền của Thầy. Đồng thời, Thầy bảo tôi đến gặp bác Ký để làm hồ sơ nhận việc trong trường.

     Công việc mới, mỗi chiều tôi xuống nhà đèn phụ với bác Long, người lo trách vụ của nhà máy điện riêng của trường,  đến giờ qui định tắt đèn thì được về. Bác Long cho tôi biết Thầy Hiệu Trưởng dặn không giao việc gì cho tôi cả, cho tôi cái bàn và nhắn đem bài vở theo học. Trừ chủ nhật, từ đó, mỗi khi trời về chiều, lúc các bạn học cùng trường thông thả vui chơi, từng nhóm hay từng cặp song đôi tươi tắn, rạng rỡ tay trong tay dắt tay nhau lả lướt nguợc xuôi Hoàng Hoa Lộ, thì tôi lủi thủi cầm chiếc đèn dầu hướng về nhà đèn.

     Mỗi đầu tháng, tôi được gọi lên văn phòng ký tên lãnh lương. Tôi rất ngạc nhiên với số lương của tôi, bằng ngạch lương của nhân viên lao công công nhật của trường. Công việc nhàn, lương cao, không phải gò lưng leo dốc. Dù thế, tôi vẫn tơ tưởng đến lối xưa, nhớ công việc cũ, nhớ mấy cô cậu học trò nhỏ của tôi thì đã đành và thật thà mà nói tôi nghe buồn xo khi nghĩ về tiếng thỏ thẻ và nụ cười  má lún của tiểu chủ cô nương. Hình như tôi bị bịnh mất ngủ một dạo khá lâu. Cũng từ dạo ấy, tôi sinh tật trùm mền tư tưởng  trong những ngày mưa, cho đến bây giờ, không tài nào bỏ được.

     Lảnh lương và gần như không làm gì cả, tôi cảm thấy ray rứt nên tôi xin phụ bác Long vài việc vặt, như bơm dầu vào bồn của máy và cũng được bác chỉ cho việc chạy và tắt máy đèn, nhưng bác dặn tuyệt đối không để Thầy Hiệu Trưởng biết, vì bác đã được chỉ thị rõ ràng và thường được nhắc nhở không giao cho tôi bất cứ việc gì. Được vài tháng, bác tin tưởng tôi hơn, bác nhường cho tôi làm một số việc nhưng luôn để ý quan sát. Những tháng kế tiếp, mỗi chiều bác ghé lại, xem xét xong rồi về với vợ con. Tới giờ ấn định, tôi tự tắt máy và chong đèn lững thững về phòng.

     Nhịp độ đều và ngày tháng cứ thế trôi xuôi. Thầy Vân lâu lâu trong đêm có ghé tạt qua nhà đèn, hỏi tôi đôi câu quanh quẩn về việc học, việc làm của tôi, tiếng còn, tiếng mất vì tiếng máy quá ồn.  Tôi đoán hiểu qua những lời rất ngắn nhưng rất ân cần và tôi đón nhận trong sự biết ơn.   

     Đột ngột Thầy Vân rời trường về Sài Gòn làm việc ở Nha Học Vụ NLS, và chẳng bao lâu sau tôi cũng phải rời công việc Thầy cho. Theo tiếng oanh gọi, nụ cười mời, tôi trở lại nghề kèm trẻ. Mấy cô cậu ấm mến tôi nên tôi được mướn lại. Tôi vui với công việc dù lương ít hơn nhiều so với lương gát nhà đèn, nhưng do công sức thật sự và công việc tôi vốn thích. Lương dạy của tôi có tăng, nhưng tôi cảm thấy thật nghèo, cái nghèo xơ mướp vì bóng dáng tiểu chủ cô nương trôi xa trọ học tận trời Đà lạt. Mở cổng đón, do bà u già phụ việc và tiễn tôi cũng lại bà u già với nụ cười hom hem chân tình càng làm lòng tôi thêm quặn thắt, buồn thiu gò lưng leo dốc, ánh đèn vàng hắt hiu đó đây trong phố đêm tỉnh lẻ, theo bóng mờ tôi lần về nhà trọ. Đường phố Blao, mấy con dốc bỗng cao hơn nhiều so với những ngày tháng trước.

     Năm tháng trôi dần, học xong, tôi rời trời cao nguyên Blao sương giá để về miền đồng bằng. Tôi bỏ lại nơi đó chuổi năm tháng tuyệt diệu, có nhiều điều để nhớ nhung, để tưởng nghĩ về: khoảng trời xanh mở rộng, cánh đồng quỳ dại vàng rực tưởng chừng trải dài tận chân trời, những dáng ngọc thướt tha dọc theo Hoàng Hoa Lộ, những thân tình keo sơn gắn bó nhận được của tuổi vừa chớm lớn. Và nhất là trong tôi ghi đậm ân tình của Thầy Vân và một số người khác đã cho tôi trong những ngày xa gia đình trọ học ở ngôi trường ấy.

     Về Sàigòn, chốn quen mà lạ. Tôi đối mặt với những nhiêu khê mới. Ngoài việc học, dạy kèm tôi có thêm vài nghề khác, ăn chực, ngủ rong. Và bằng cách nào đó, tôi cũng sống còn và thời gian cứ thế hững hờ trôi xuôi. Một đoạn đời lại sang trang, tôi được bổ về trường trung học NLS Bình Dương, quê Ngoại của tôi. Tôi bắt đầu tham dự cuộc chơi mới. Tình si về chốn cũ quả khó nguôi ngoai...

     Trong chuổi tháng ngày sau đó, khi có dịp ghé qua Nha Học Vụ, thỉnh thoảng tôi có gặp Thầy Vân. Thầy vẫn vậy, bình dân, gần gủi và ân cần  với học trò cũ. Đôi lần tôi tình cờ gặp Thầy đang trà dư tửu hậu trong quán Cao Vân cùng bạn bè, học trò. Lần nào Thầy cũng cởi mở cho phép tham dự nhưng tôi tìm cách tránh né. Tôi không rõ tại sao, có lẽ một phần, biết phận học trò cũng như không dùng được rượu. Hơn nữa, bận bịu với nợ áo cơm, với những chuyện trời ơi đất hởi, dù luôn ghi nhớ ân tình cũ nhưng tôi cố giữ một khoảng cách nào đó, vì thế tôi không được gần gũi với Thầy so với các bạn khác.

     Cho đến, hình như mùa nghỉ hè năm 1972, lúc ấy, Thầy đang là hiệu trưởng trường NLS Mỹ Tho, do tình cờ tôi gặp Thầy, đang bận nên Thầy cho tôi địa chỉ nhà riêng và bảo tôi đến gặp Thầy sáng hôm sau.

     Y hẹn, đến nhà Thầy từ sáng sớm, đó là lần đầu và cũng là lần cuối tôi gặp Thầy tại nhà. Thầy tiếp tôi, thăm hỏi ân cần về đời sống về việc làm và cho biết ý định nếu tôi  thích Thầy  tôi về làm việc với Thầy. Thật vui vì được Thầy nghĩ đến, có ý nâng đỡ dù bên ông có nhiều học trò khác gần gủi với Thầy. Tôi bày tỏ lòng biết ơn và trình bày hoàn cảnh riêng của tôi để xin không nhận sự giúp đỡ đó. Ông lắng nghe trong sự thông cảm. Và cũng nhân không khí thân tình của câu chuyện, tôi xin Thầy giúp cho một người bạn học ở Văn  Khoa. Lúc ấy, anh đang dạy tại trường phổ thông Cái Tàu Thượng. Quá xa nhà, nhất là những ngày nước lũ, anh phải dùng ghe thúng chống chèo đến trường. Thầy hỏi vài câu và bảo anh ấy đến gặp Thầy.

     Mùa tựu trường năm đó, bạn tôi được Thầy nhận dạy ở trường NLS Mỹ Tho. Được anh bạn hỏi ý kiến về chuyện tỏ lòng biết ơn, tôi có đề nghị món quà vừa phải như vài chai rượu ngon, nhằm biểu lộ nghĩa tình thì sẽ được Thầy nhận. Trong một lần họp mặt, Thầy đem hai chai rượu vừa nhận ra đãi anh em. Bẽ bàng thay! đó là hai chai rượu vỏ ngoại, mà ruột là trà Chợ Lớn. Bữa tiệc rượu thành tiệc trà. Thế nhưng Thầy cười xoà và dặn mọi người giữ kín. Cho đến vài năm sau, tôi và bạn tôi mới biết việc ấy qua một người bạn khác xì ra.      

     Ngoài việc giúp đỡ cho tôi, Thầy còn giúp rất nhiều người khác. Phải mất nhiều trang để ghi lại những chuyện được nghe kể về sự sẵn lòng giúp người của Thầy, nhất là giúp học trò. Chỉ xin kể đôi điều tiêu biểu được nghe.

     Do đương sự, vốn là người bạn học cùng lớp với tôi, kể lại. Anh thấy tên mình trên danh sách trúng tuyển vào lớp đệ tam nhưng khi lên trường làm thủ tục nhập học thì mới biết có người trùng tên, trùng họ đã làm thủ tục xong. Khi kiểm tra lý lịch thì anh không phải là người được trúng tuyển. Anh xin được ngủ tạm trong trường qua đêm để sáng sớm hôm sau về quê.  Sự việc được trình lên Thầy Hiệu Trưởng Vân để cho anh ngủ trọ qua đêm. Sáng sớm hôm sau, thay vì anh ra bến xe thì anh được gọi lên văn phòng làm thủ tục nhập học với tư cách dự khuyết. Một vài tuần qua đi, dù học sinh trúng tuyển đã nhập học đủ số nhưng anh vẫn được giữ lại học cho đến ngày ra trường. Duyên khởi nào để Thầy Vân làm Hiệu Trưởng ngay lúc đó, và giữ anh lại.  Nhân duyên nào, để một số năm sau, anh ấy về phục vụ dưới trướng của Thầy ở trường NLS Mỹ Tho? Phải chăng mọi việc được dàn trãi do duyên khởi và phước phần?

     Sau năm 1975, nổi trôi từ góc rừng sâu nầy đến xó trời hoang du khác và qua những lần chuyển trại, tôi may mắn được sống chung suốt ba năm hay chỉ đôi ngày với một vài anh em dân NLS. Có dịp nhắc nhớ cảnh xưa, người cũ, Thầy Vân vẫn được nhắc tới trong sự thương quí. Và trong nhiều năm tháng sau, sống đời sống tha phương chốn nầy, anh em NLS có cơ may gặp lại và Thầy được anh em nhắc nhớ khá nhiều. Riêng tôi nghĩ về Thầy nhiều hơn và ân tình cũ canh cánh bên lòng, tôi ra sức tìm kiếm trong nhiều năm liền. Sau cùng thì cũng tìm ra manh mối, thật thương tiếc khi biết tin thì Thầy đã rời cuộc chơi chốn thế tục mấy năm trước đó.

     Nếu quan niệm bước vào cuộc đời nầy như sự ghé lại, như bước lên một chuyến xe đời, tham dự một hành trình; và lần lượt kẻ trước người sau sẽ phải xuống một trạm nào đó, thì tôi xin cảm tạ ơn phước, do tình cờ hay do định mệnh sắp xếp đã cho một số người và nhất là tôi được may mắn ngồi gần Thầy trên cùng một chuyến xe đời. Và nếu cùng nghĩ, điều cốt lõi và đáng kể nhất trong hành trình rong ruổi chung, chúng ta có lấy sự ân cần, sự tử tế để thù tiếp nhau không? Thì giờ đây, chốn nầy, tôi cố moi từ ngăn nếp trí nhớ của mình, nhắc lại chuyện xưa, sau một khoảng dài hơn bốn mươi năm, nhớ về chốn cũ, khi đã xa nó nghìn trùng; nhắc nhớ về người xưa, gởi lòng thương tiếc về người đang ở cỏi vô cùng. Xin Thầy nhận những lời viết nầy như nén hương lòng hoài tưởng về Thầy, đồng thời xin Thầy nhận lòng cảm tạ cho những ân tình, và sự tử tế của Thầy đã thù tiếp riêng tôi.

    Mong rằng ở một cõi khác nào đó, Thầy tìm được sự an vui, yên bình hơn.

"Nắng hồng chiếu bóng đài gương
Lời nghi hoặc hỏi đoạn trường từ đâu
Nối đuôi khởi sự từ đầu
Ví dù kết thúc trước sau vẫn là..."
(Thơ Bùi Giáng)
 
Vương Thế Đức
Đầu Xuân 2007  (trích Đặc San 2007)