alt
 

Muốn trở thành học viên Nông Lâm Súc Bảo Lộc, điều cần thiết phải qua một kỳ thi tuyển, một kỳ thi khá gay go vì vào thời điểm năm 1963 cả miền nam Việt Nam chỉ có ba trường ở: Bảo Lộc, Huế, Cần Thơ, và chỉ có trường Bảo Lộc tuyển học viên vào lớp đệ tam (lớp 10 bây giờ). Niên khoá đầu tiên hệ trung học 1963-1964. Hội đồng thi được tổ chức ba nơi: Sài Gòn, Bảo Lộc, Huế. Riêng hội đồng thi Bảo Lộc số thí sinh tham dự thi tuyển vào lớp đệ tam là 92 người, chỉ có 5 hay 6 người trúng tuyển, họ là những người chính thức được ngồi trên chiếc ghế liền bàn bằng gỗ sồi được chở từ Mỹ sang. Sau đó có một số học viên được nhận vào học với tính cách đặc biệt không qua kỳ thi tuyển, trường hợp đặc biệt này được sự chấp thuận của Giám Đốc Nha Học Vụ Nông Lâm Súc về việc nhận học viên là con em của những công chức đương thời, trường hợp như thế phải tự đóng và đem ghế vào ngồi theo lớp học. Tôi là một trong những học viên đặc biệt đó. Tất cả chúng tôi từ 3 hội đồng tuyển sinh Bảo Lộc, Sài Gòn, Huế với trên 100 anh chị em trúng tuyển và câu chuyện được bắt đầu từ đó.

Sau thi tuyển, kết quả được niêm yết, niềm rộn ràng của người học trò sắp được học trong một ngôi trường to lớn khang trang của chúng tôi bỗng bị giảm đi, vì thời sự đất nước rối ren, hội đồng các tướng lĩnh đảo chính lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Nhưng sự lo lắng ấy mau tan vì trung tuần tháng 11-1963 chúng tôi được gọi nhập học. Chân ướt chân ráo vào trường trong tư thế sẵn sàng chấp nhận sự hành hạ của các anh chị khoá đàn anh, với nhiều nhục hình được áp dụng mang tính chất răn đe và cả thử thách được gọi là “tuần lễ huấn nhục”. May mắn chúng tôi không bị hành hạ như lời đồn đại, có thể do sự chuyển đổi phương cách đào tạo vì lớp trước chúng tôi là sinh viên khoá 8 kiểm sự thuộc trường Quốc Gia Nông Lâm Mục còn chúng tôi là học viên thuộc hệ Trung Học Nông Lâm Súc? Nhưng lại bị lớp đàn anh bắt bãi khoá để yêu cầu ban Giám Đốc từ chức vì cho rằng thành phần này thuộc phe của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cuối cùng ban Giám Đốc tạm thời được thành hình với quyền Giám Đốc là kỹ sư Nguyễn Phố Lu. Cuộc sống êm ả chỉ được mấy tháng thì thời sự lại thay đổi, tướng Nguyễn Khánh tiến hành cuộc chỉnh lý, từ đó nổi lên các hoạt động đòi dân chủ nhất là đối với sinh viên học sinh với phong trào bãi khoá, xuống đường… Chúng tôi cũng bị cuốn vào cơn lốc đó nên nhóm học viên tranh đấu đã bãi khoá không đồng ý kỹ sư Đỗ Cao Thọ làm hiệu trưởng (cuối năm 1963 khoá 8 ra trường, kỹ sư Đỗ Cao Thọ được cử làm Hiệu Trưởng  trường NLS). Trước tình hình đó Nha Học Vụ NLS đã cử kỹ sư Nguyễn Viết Trực làm hiệu trưởng.

alt
Thầy Nguyễn Viết Trực

Một sự việc chấn động nữa xảy ra trong trường có ảnh hưởng đến chúng tôi, đó là việc kỹ sư Nguyễn Hữu Tranh bỏ nhiệm sở vào bưng ở đèo Bảo Lộc, để rồi mấy chục anh em chúng tôi trên chuyến xe đò từ Sài Gòn lên bị mời vào rừng nghe kỹ sư Tranh giảng chính trị, báo hại cho anh em trở lại trường bị ngành an ninh sở tại hành hạ tới mấy ngày. Cuối năm học 1965 chúng tôi hoàn thành bằng Tú Tài I ngành Nông Lâm Súc thì chiến sự bắt đầu ác liệt, ngay cả trong trường tại nhà giáo sư số 15 là nơi ở của cố vấn Mỹ về nông nghiệp bị đặt chất nổ, may mắn hôm đó ông ta không có nhà, vì an ninh không được tốt và chủ yếu là trường không đủ nhân viên giảng huấn cho cấp lớp đệ nhất (lớp 12 ngày nay), vì thế chúng tôi lớp đệ nhất trung học Nông Lâm Súc được lệnh cấp tốc chuyển về Sài Gòn, học tại trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc số 45 Cường Để. Về đây chúng tôi không còn ở chung, gần gũi như ở Bảo Lộc nữa, chỉ còn gặp nhau trên giảng đường mà thôi, cũng từ đó một số anh em hoà nhập vào nhịp sống chung của sinh viên, học sinh đương thời, thể hiện thái độ chính trị rõ rệt, tham gia vào các cuộc biểu tình đòi thành lập chế đô dân cử. Cuối cùng năm học cũng được chấm dứt theo chương trình và văn bằng Tú Tài II Nông Lâm Súc được thành hình là chiếc giấy thông hành để vào Cao Đẳng, Đại Học, Kiểm Sự… Cửa vào Kiểm Sự rất đông, đơn giản đa số anh em đều lớn tuổi và khả năng có việc làm rất cao nên đầu năm học 1966 bắt đầu xa nhau vì khác ban, khác chuyên ngành, khác địa điểm thực tập. Gần cuối năm 1966 lớp Cao Đẳng Sư Phạm NLS được mở ra... lại tách nhỏ chúng tôi thêm một lần nữa. Khoảng cuối năm 1968 nhóm chúng tôi, NLS 1963-1966 mới thực sự rã đàn vì các khoá Kiểm Sự và Sư Phạm đã hoàn tất, những người theo Sư Phạm còn tiếp tục đứng trên bục giảng còn anh chị em theo Kiểm Sự có người đi làm còn phần đông cánh nam nhi phải lên đường nhập ngũ các khoá Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.

Và như thế thời gian cứ trôi đi, sự liên hệ gần gũi chỉ gói gọn trong tình cảm riêng tư, đời thường… Rồi biến cố 1975... một số người từ công chức về làm thường dân, một số giáo chức không phải là sĩ quan biệt phái được tiếp tục công tác giảng dạy tại nhiệm sở cũ, một số phải vào các trại học tập cải tạo… rồi lo toan cuộc sống, rồi lãng quên… Phải kể đến những cuộc đi như một cuộc mạo hiểm đánh đổi bằng sinh mạng của chính mình và vợ cùng các con, có những cuộc đi được tổ chức đàng hoàng đến vùng đất mới như để bù lại những năm tháng oằn chịu nhục hình...

Theo các bạn kể lại, năm 1996 tại nhà Phạm Thuyết cuộc họp mặt đầu tiên với 25 thành viên tham dự, rồi 1998 tại nhà Trần Văn Tám cũng với số lượng như trên nhưng tin tức anh em chúng tôi biết được nhiều thêm. Mười năm sau, tại một trang trại ở Quận 7 do Hồng Phước Tài từ Mỹ về tổ chức, cũng phải kể đến những chuyến về thăm của Nguyễn Bửu Linh, Nguyễn Văn  Ni, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Đăng Hương… thuận lợi ở đâu thì tập trung anh em ở đó với một tuần trà, một tách cà phê hay sương sương một chầu nhậu thể hiện được tính gắn bó tình đồng môn quý báu của một ngôi trường. Còn tại quê nhà nhóm Trần Văn Tám, Trần Anh Kiệt, Phạm Thuyết , Phạm Văn Nê, Kim Đình Quảng… vốn là dân của thành phố Sài Gòn nên các anh chị là điểm hội tụ, là trung tâm liên lạc của nhóm NLS 1963-1966.

Phần tôi, một kẻ xa quê cũng biết rằng có nhiều anh em mình đang lưu lạc ở nhiều nơi nhưng cũng chỉ liên lạc được vài người như: Trần Thanh Giang, Phạm Thị Bích Hoà… còn như Huỳnh Vầm, Phan Văn Vĩnh, Trịnh Minh mẫn, Nguyễn Văn Thinh… nghe nói định cư ở Mỹ nhưng không biết ở đâu? Còn ở Việt Nam, rất nhiều bạn bè để thỉnh thoảng có vài cuộc điện thoại thăm hỏi, nhắc lại chuyện xưa như Nguyễn Hoàng Lang, Quách Văn Hai, Bùi Lâm Sơn, Trần Văn Tám, Tôn Nữ Thị Cần… Và vô cùng cảm kích ông bạn Thuỷ Lâm Nguyễn Hoàng Hoanh hiện đang trú ngụ tại đất nước hứng bão, núi lửa và có trung tâm lúa gạo quốc tế IRI, anh ta đươc suất học bổng sang Phi Luật Tân, ngẩn ngơ trước đất nước nhiều đảo ở giữa đại dương hay vì cái đẹp của những cô gái Phi thời ấy mà chàng trai Sài Gòn này tình nguyện ở luôn bên đó. Cũng nhờ anh em chúng ta tụ họp lại, liên lạc nhau mà một mình anh ta lập riêng một trang dành cho nhóm chúng tôi NLS 1963-1966. Gần 3 năm nay gặp lại Bùi Tho trên mạng, vốn là người sinh đẻ ở Bảo Lộc là bạn chơi từ thời tiểu học rồi Nông Lâm Súc, cho đến sư phạm và cả cùng nhau giảng dạy tại một trường cho đến lúc tan đàn rã đám. Từ đó chúng tôi có những cuộc chuyện bên tách cà phê buổi sáng hay vào giữa đêm, chuyện xưa nay, chuyện trường chuyện lớp mà hai bà xã thắc mắc không biết hai ông chồng của mình có chuyện gì mà nói hoài không hết? Chúng tôi chỉ biết trả lời đó là chuyện Nông Lâm Súc, là thiên truyện dài nhiều tập, hay hơn cả Ngàn lẻ một đêm, Giờ thứ 25 của Gorghieu, chuyện Kiếm hiệp Kim Dung… Qua Tho tôi được biết nhiều tin tức anh em bên quê nhà, biết ít nhiều hình dáng đổi thay của ngôi trường ngày xưa mình theo học mà bây giờ anh em coi như đó là nơi mong tìm thăm viếng một lần… và cả những chuyện đời thường của bà con mình quen biết vì đã từng sống hơn 20 năm tại nơi này.

Nhớ thời đi học Sài Gòn, sáng sáng Tho đứng chờ tôi ở cổng chùa Hưng Long đường Minh Mạng để anh em cùng chở nhau đi học vì tôi có con ngựa sắt Bridges­tone và từ nhà tôi ở hẻm bà Lớn trên đường Phan Thanh Giản, sau tết Mâu Thân thì cư ngụ tại Đại Học Xá Minh Mạng nên trên đường đi học phải ngang qua chỗ ở của anh, có lần anh em đang đi trên đường trước trường trung học Nguyễn Thượng Hiền thì xảy ra vụ va quẹt với chiếc xe đạp của một cậu học sinh trước cổng, đám học sinh trong trường ùa ra, hoảng quá tôi rú ga vọt lẹ, được một khoảng xa ngoái lại thì thấy Tho rơi đâu mất, “chết cha, thế nào cũng no đòn với đám học sinh kia”, nghĩ thế và quay đầu chạy lại tìm, gặp anh ta bình an vô sự, thì ra trước cái hung hăng của nhóm học sinh nóng ruột vì thấy xe đạp bạn mình bị gãy, Tho đã nhanh miệng bảo rằng tôi là dân chạy xe ôm đã bỏ chạy…! Ngoài Tho ra còn có Lai Minh, Vĩnh Tường, Văn Xuân Trường... Đó là nhóm học chung trường Bồ Đề và cùng vào NLS một lần với tôi. Các bạn biết không? Khi học lớp đệ tứ trường Bồ Đề trong lớp có 2 người tên Trường để phân biệt anh em gọi là: Trường Ù (vì anh ta mập lùn) và Trường Ồ, (vì giọng nói ồ ồ nên các bạn đã cho tôi cái tên dễ thương đó).

Rồi cơ hội gặp lại bạn bè của tôi cũng đến, mẹ tôi muốn về Việt nam ăn tết với hai cô em gái của tôi tại Bảo Lộc, vợ chồng tôi thoả thuận với nhau là, nhà tôi sẽ đi cùng mẹ tôi về ăn tết, còn tôi ba tháng sau sẽ qua đón cụ về. Và tôi đã dựng ngay chương trình với Bùi Tho trong thời gian về thăm quê nhà.

Về đến Bảo Lộc, gặp Bùi Tho ngay và từ đó ngày nào cũng bù khú tại quán nhậu Nam Bộ 02 phía sau trường ngay chỗ khai thác đá ngày xưa, chủ nhân quán là bố mẹ của cháu Ngọc Mỹ hiện đang học tại Queensland University of Tech­nology (Queensland University of Technol­ogy là một trong những trường đại học tại nơi tôi ở, qua Bùi Tho giới thiệu nhờ tôi giúp đỡ, vợ chồng tôi đã vui vẻ tiếp nhận và coi cháu Mỹ như con cháu trong nhà). Nơi quán nhậu này tôi được gặp Thân Trọng Lộc, Lê Quang Thiện, Vĩnh Tường vốn là bạn học NLS 1963, ngoài ra còn phải kể đến vợ chồng Lê Đức Kính, vợ Phạm Văn Sơn, cô Hồng Nhung và cô Nguyễn Thị Tho là những người làm việc tại trường TH NLS Bảo Lộc, và hơn 10 học sinh ban Thuỷ Lâm của các năm 73-74-75. Đặc biệt hơn cả là được gặp anh Châu Kim Lang nguyên là Giám Học của trường, anh có mặt tại đây vì có giờ giảng về Sư Phạm cho giáo viên cao đẳng của trường hiện nay. Thật lòng mà nói rất đáng khâm phục với tuổi 72 anh Lang vẫn còn làm việc, được biết có tuần phải giảng dạy 3, 4 nơi cách xa nhau vài trăm cây số.

Đêm 18/4 tôi và Bùi Tho đón Thân Trọng Lộc từ Bảo Lộc xuống tại một khách sạn ở đường Lê Thánh Tôn chuẩn bị cho chuyến đi miền tây, chuyến đi đã được hoạch định từ lâu dành cho các bạn cùng lớp hiện cư ngụ tại Bảo Lộc. Sáng hôm sau đúng như dự định chúng tôi đến Giồng Trôm gặp vợ chồng Bùi Lâm Sơn (TL) thưởng thức vị chua ngọt của bưởi da xanh trồng ở vườn nhà, thương cho bạn mình với những thương tích của chiến tranh còn để lại trên người nhưng thần trí còn minh mẫn, sức khoẻ tương đối tốt vẫn thường khoe là tự điều khiển gắn máy chạy lên tận Sài Gòn. Ghé Trà Vinh gặp được vợ chồng Lai Minh và Nguyễn Hữu Minh để rồi ra quán nhậu cạnh bờ sông thưởng thức món gỏi bồn bồn cùng lẩu cá kèo, sau đó tìm ra chợ Trà Vinh mua khô cá sặc theo lệnh của bà xã, ghé ao Bà Om để Thân Trọng Lộc thăm được một thắng tích của Trà Vinh rồi vội vã lên đường vì đã hơn bốn giờ chiều, và Trần Xuân Thành (CN) đang réo gọi… Qua khỏi bắc Cần Thơ thì phố xá đã lên đèn, trong gian nhà khang trang vợ chồng Thành vui vẻ đón chúng tôi, sau hồi chào hỏi tay bắt mặt mừng, chủ nhà hối chúng tôi vào bàn tiệc món nhậu đã bày sẵn bia bọt thì cả thùng, nhìn cái bụng của gia chủ đủ biết là sức uống cỡ thượng thừa rồi, mới thấy tội nghiệp cho Bùi Tho vì bên cạnh tôi mấy ngày nay anh ta đã chịu đòn khá nhiều, bởi lẽ với tôi vào 2 lon là coi như no không muốn uống nữa, có Lộc bên cạnh cũng như không vì anh ta vừa bị tai biến, rượu bia bây giờ với anh ta là thuốc độc…

Sáng hôm 20 chúng tôi trực chỉ Vĩnh Long ghé thăm Nguyễn Hoàng Lang, anh chàng nông dân xuề xoà này vẫn rắn rỏi như ngày nào, đón tiếp chúng tôi ở một quán cà phê. Rất tiếc không ghé được thăm nhà, phải vội vã chia tay bởi lẽ còn phải ghé Cai Lậy và phải trả xe đúng theo hợp đồng. Đến nhà gặp Lâm Thanh Nghiêm đã quá trưa, anh tươi tỉnh hơn so với bài viết của anh nói về con bệnh đang mang, anh cho biết vợ anh ta có công chuyện đi Sài Gòn, sáng nay anh bảo trước khi đi phải làm và nấu một nồi cháo gà đợi bạn, thương nhất là anh nói: “ Bác sĩ bảo không được uống rượu chỉ cho uống bia, nhưng tối đa một lần là hai lon thôi, hôm nay vui quá gặp bạn bè nên tự cho phép uống thêm một lon nữa”. Tho không đồng ý chỉ cho uống thêm nửa lon. Giã từ Nghiêm, đến nhà Quách Văn Hai, thì lại gặp vợ chồng Bùi Lâm Sơn ghé đến, thật tình cảm, anh ta đã chứng tỏ bản lĩnh của mình, vì đã vượt hơn 70 cây số để đến đây bằng xe gắn máy… Quách Văn Hai nhận bó lan rừng do Tho đem đến, cặp mắt mở to nhưng chính xác anh chỉ thấy bằng tay vì đôi mắt đã mù từ lâu, để cho anh chàng Tho mau nước mắt ôm bạn mình khóc một cách ngon lành.

Rời Cai Lậy, gĩa từ bè bạn trong chúng tôi đều mang riêng mình một nỗi ưu tư, vùng quê hương sông nước này chúng tôi còn có Nguyễn Ngọc Hoan, Nguyễn Ngọc Hạnh, Nguyễn Công Bình, Trần Thị Nguyện, Nguyễn thị Ánh, và còn ai nữa? Biết đến bao giờ có chuyến viếng thăm? Riêng đám bạn ở quanh Sài Gòn như Nê, Tám, Kiệt, Cảnh, Sơn, Hồng… thuận lợi gặp gỡ nhưng có được cơ duyên không? Rồi ở rất xa vùng Huế, Quảng Trị... có Đinh Lô, Ngự, Cần, Ngò, Trợ… Biết đến bao giờ gặp được, đủ thấy rằng chuyện của chúng tôi không biết đến bao giờ kết thúc... Nhớ lại lời bà xã Bùi Lâm Sơn nói: “Thật vô cùng cảm kích cái tình bạn giữa các anh chị, bây giờ ai cũng già cả, thường tìm đến thăm nhau, tôi nghe ông xã kể ngôi trường ngày xưa ấy vô cùng đẹp, bây giờ tôi thấy thêm cái đẹp của tình đồng môn mà ít nơi nào có được.” Câu nói mang tính chất xác định từ đó liên tưởng đến một câu hỏi: “tại sao từ ngôi trường ấy, anh em chúng ta gắn bó thương yêu nhau như thế?“ Đã có hàng ngàn, hàng vạn câu trả lời từ mỗi một thành viên của Nông Lâm Súc Bảo Lộc chúng ta rồi…

Cho nên chuyện của chúng tôi chỉ là một khoảng nhỏ trong vùng trời to lớn ấy. Một trăm con người từ nhiều nơi trên đất nước tụ tập về hoang vắng Blao này, giữa vận nước đảo điên chính sự thay ngôi đổi chủ đến 3 lần, ban quản trị nhà trường cũng 3 lần thay đổi, rồi biểu tình rồi bãi khoá, chiến sự gia tăng, học viên bị cản trở đến trường , giáo sư không về được nơi dạy. Cái học của chúng tôi khó khăn này chồng chất khó khăn kia, mò mẫm vừa chạy vừa sắp hàng… Để rồi giờ đây, dù tóc đã bạc da đã nhăn, con đàn cháu đống chúng tôi vẫn mong gặp lại nhau, nói chuyện ngày xưa.

Và có một điều ít ai biết đến: “Chúng tôi là nhóm học viên có thời gian học ngắn nhất tại ngôi trường này, chỉ có 2 năm!”

Từ Văn Trường

(Trích Đặc San 2010)

Ghi chú: Như đã thưa trước đây, Trang Nhà có ý định dần đăng lại những bài trên các Đặc San để quý Thầy Cô hay các anh chị có thể đọc dù không có trong tay quyển Đặc san. Tuy nhiên mất các phiên bản "text" vì "hard drive" bị hư nên việc đăng lại đòi hỏi nhiều nhân lực gõ lại từ các bản in. Hưởng ứng lời lời kêu gọi, lâu lâu nhận được sự góp sức gõ lại, hay tác giả còn giữ bản chính gởi đến, Trang Nhà sẽ đăng dần xen kẽ với những bài nhận được thường xuyên. Thành thật cám ơn cho sự góp sức của các bạn.