alt

{jcomments on}Buổi sáng tôi có thói quen đi bộ dọc theo con sông gần nhà. Sydney đang mùa xuân, trời mát lạnh, hoa đang nở rộ. Những cánh phượng tím rơi rụng khắp lối đi, nhìn xác hoa như một tấm thảm trải dài rất đẹp làm tôi nhớ đến Hoàng Hoa lộ, nhớ tấm thảm vàng mà ngày xưa tôi đã đi qua. Tôi nhớ nhiều đến trường xưa, bạn cũ Nông Lâm Súc Bảo Lộc. Tôi hay thả hồn về quá khứ, mấy mươi năm rồi mà sao lòng vẫn nhớ khôn nguôi. Nhớ nhất căn nhà số 10, nơi tôi trú ngụ một số năm trong thời đi học và thời trở lại trường làm công việc giảng dạy.

Một ngôi biệt thự xinh xắn có ba phòng ngủ, nhà có tủ âm, phòng khách rộng rãi, chung quanh nhiều cửa sổ bằng kiếng. Kiến trúc biệt thự đẹp mắt và rất lạ, cửa sổ buông lửng ra ngoài. Đằng sau có dãy nhà nhỏ có một nhà xe, nhà bếp và hai phòng ngủ riêng biệt.

Từ phòng khách, tôi có thể thả tầm mắt nhìn ra Hoàng Hoa lộ, Phượng Vĩ lộ, lưu xá D, lưu xá E của nữ sinh, xa xa là nhà ăn. Trước nhà có giàn hoa tím, hoa nở quanh năm. Ngoài đầu ngõ có hàng Đỗ Mai, khi xuân về, cây trút lá, hoa nở rộ đầy cành màu trắng, tôi rất yêu thích khung cảnh này. Ngày ấy, có khi tôi ngồi hàng giờ trên ghế salon ngắm nhìn bầu trời thơ mộng đó mà hồn như phiêu lãng nơi đâu? Hồn tôi hoà vào cảnh trí thiên nhiên êm đềm, tuyệt hảo ấy và nghĩ đến một tương lai vô định!

Bước đầu đến trường, tất cả đều xa lạ, tôi không ở nội trú nên chỉ quen với các bạn cùng lớp đệ nhị Mục Súc như: Hà Ngọc Chi, Dương Thị Cúc, Nguyễn Thị Đăng Đàng, Trần Thị Huỳnh Hoa… Vì cái ngáp, nên một hôm có độ 10 người bạn của lớp đệ nhị Canh Nông đến nhà, trong đó nổi bật, một người qua cách ăn mặc: áo thun dài hơn áo ngoài, quần rách vài lỗ, gương mặt có vẻ bất cần đời. Sau này mới biết người bạn nhỏ tuổi hơn tôi và học cùng cấp lớp và thuộc ban Canh Nông. Tôi xin tạm gọi bạn là em Canh Nông.

Biết thêm về em Canh Nông, tôi càng thông cảm và thân thiết với em hơn; vì em cùng họ với tôi, cái họ khá đặc biệt ít ai có! Em cũng như tôi, tự lo liệu trong cuộc sống để học hành, tôi hiểu rõ những thiếu thốn của kẻ xa nhà, vì tôi đã xa quê tôi, miền lục tỉnh từ lâu…

Thân hơn, nên tôi biết ngoài việc học, em Canh Nông còn đi gác nhà máy phát điện của trường, để hàng đêm các bạn có ánh sáng sinh hoạt và học hành. Còn em, sau 10 giờ đêm, điện đã tắt, khi về phải học bằng đèn dầu. Biết em đêm khuya mới xong phiên gác ở nhà đèn, với chiếc đèn dầu leo lét cầm tay, từ nhà đèn đi dọc theo Hoàng Hoa lộ về nhà thầy Châu Kim Lang phải đi qua căn nhà số 10. Ở Blao, trời về đêm khá lạnh, tuổi trẻ xa nhà ai cũng mắc chứng bệnh chung là “đói bụng”. Tôi gợi ý, mỗi đêm sau khi gác nhà máy điện về, nếu thấy ngọn đèn còn sáng ở phòng khách là tôi còn thức. Em có thể ghé nhà số 10 dùng phần cơm tôi để dành cho em.

Ngày qua ngày, tình thân em Canh Nông và mọi người trong căn nhà số 10 càng thân hơn. Em thường lui tới với người bạn thân cùng lớp ở nhà sau là Huỳnh Văn Thắng. Em cũng thân với những bông hoa biết nói ở phía sau là các em: Trần Thị Hảo, Phú Ngọc Quang, Võ Thị Lộc. Các đóa hoa biết nói dường như đang khoe sắc với các đóa hoa hướng dương đang nở rộ, rực rỡ sau hè.

Tôi nhớ em Canh Nông rất chăm học, chịu khó nhưng cũng rất chịu chơi như các bạn khác. Có lần em đến khoe với tôi, em dự cuộc thi, thách nhau với mấy người bạn. Tôi hỏi thi gì? Em bảo em đang thi “ở dơ” với Huỳnh Văn Thắng, Trần Văn Hiệp và một số bạn ở chung sau nhà Thầy Châu Kim Lang. Tuổi trẻ, buồn nhớ nhà nên nghĩ ra những trò chơi tinh nghịch thách thức nhau một cách ngộ nghĩnh. Giờ nhớ lại thành tích em kể ở dơ mà tôi thầm cười một mình.

Kỷ niệm đáng nhớ về em Canh Nông là hình ảnh em, chống cái lạnh sáng sớm của trời cao nguyên, em quấn cái mền ra lò bánh mì mua một bao bánh, về gõ cửa phát cho các bạn. Buổi sáng, trời lạnh ở Blao ăn miếng bánh mì nóng hổi vừa ra lò, nó ngon làm sao. Cám ơn em.

Có lần đêm đã khuya, đèn điện đã tắt, tối thui, em và Huỳnh Văn Thắng gõ cửa sổ rủ tôi chui cửa sổ đi ăn bún bò chị Tráng. Quán chị Tráng, được biết mở thật khuya để bán cho mấy cô cậu học trò, nhất là mấy cậu tuổi đang đang lớn. Đây là lần đầu tiên theo hai cậu em chui cửa sổ đến quán của anh chị Tráng, dù nghe danh rất lâu. Trong khuya khoắc nhưng chị Tráng ân cần tiếp đãi những người khách của mình. Nhìn tô bún bò nóng hổi đặt trên mặt bàn đen bóng. Có lẽ nước bóng của mặt bàn nhờ lớp mỡ bò và bụi bám đã lâu ngày. Chị Tráng đi tới đi lui, cho thêm tí hành vào tô người nầy, cho thêm miếng thịt vào tô người kia, vui vẻ chuyện trò như bà chị cả trong đại gia đình.

Chị Tráng ơi, nghĩ lại thấy chị giỏi quá, ngoài việc chăm sóc đàn con, chị còn lo nồi bún bò lúc nào cũng ngon và đầy đủ để cung cấp biết bao miệng ăn trong trường. Nơi đây, tôi đã từng nấu bún bò theo bài bản của người Huế chỉ dạy với xương thịt ê hề, hoặc đi ăn những quán nổi tiếng ở Sydney như Đông Ba, Gia Hội nhưng sao tôi không thấy ngon bằng món bún bò do chị nấu. Phải chăng vì thiếu khung cảnh, thiếu con người, nên hương vị ngày xưa tôi không sao tìm được! Không biết bây giờ anh chị Tráng ra sao? Cầu mong anh chị vẫn còn khỏe mạnh để có dịp trở lại B'lao, thăm lại trường, không tận mặt thăm anh chị là một điều thật thiếu sót.

Thời gian học ở trường cũng qua mau, về Sài Gòn học sư phạm rồi sau đó chia tay mỗi người mỗi ngã, nhưng tình thân với đứa em Canh Nông vẫn còn giữ được, em hay tới thăm tôi tại nhà số 248 Hai Bà Trưng, Tân Định. Em quen biết hết mọi người và ai cũng quý mến em.

Sau biến cố 1975, không liên lạc nhưng thoảng nghe em đi cải tạo. Đến năm 1978 nghe tin em được thả về, cũng may nhân lúc ấy có dịp đi chiêu sinh ở Bình Dương, tôi tìm đến nhà thăm em. Nhìn em khuất trong đám tre đan, tất tả trong công việc đan giỏ, tôi thấy mủi lòng, một con người thông minh, tháo vát mà nay đang ở đáy vực sâu của đời người, với dáng vóc khắc khổ, tiều tụy. Tôi được em và đại gia đình tiếp đón rất ân cần và thân thiện. Nhìn cảnh đầm ấm, đùm bọc của gia đình, tôi biết đó là sức mạnh để em có thể thoát ra cảnh đời tối tăm đang chịu đựng. Tôi luôn thầm cầu nguyện có một phép lạ nào đó đến với em.

Những ngày kế tiếp, dù phương tiện di chuyển khó khăn nhưng vẫn gặp lại em. Gặp nhau chúng tôi lắng nghe tiếng thở dài của nhau. Năm sau, tôi nhận được thư em viết từ Canada kèm theo thùng quà gởi tặng. Thật vui mừng và cảm động! Vui vì biết em đã tìm được tự do, thoát cảnh đời cơ cầu tôi đã chứng kiến. Từ nay, và chốn đó, em có cơ hội đổi đời, tiến thân. Cảm động vì em còn nhớ đến người còn ở lại. Em còn nhắc nhở đến những bữa cơm ngày xưa lúc học trên trường. Một việc làm rất đơn giản và tầm thường tôi đã đối với em.

Ở xứ người, biết bao là bận rộn nhưng em luôn giữ liên lạc, thăm hỏi. Hơn mười năm trước, từ xứ Úc ở Nam bán cầu, tôi đã đến thăm em và đại gia đình em ở tận miền gần cực bắc Mỹ Châu. Em và đại gia đình em vẫn quan tâm đến tôi. Và em cũng sang chốn nầy để thăm tôi đôi lần. Em cũng vậy, sau mấy mươi năm, mối tương giao và niềm thân thiết vẫn còn giữ được với tất cả những người trong ngôi nhà 248 Hai Bà Trưng. Một tình thân rất đặc biệt mà tôi thật trân quý. Bây giờ tôi muốn nói thật với các bạn tên của người em là: Vương Thế Đức.

Cám ơn em, cám ơn cuộc đời cho chị được quen biết em.

Sydney mùa xuân 2010

Vương Thị Ngọc Liên

MS 1965-1968
(Trích Đặc san 2010)
 
 
 
Chị Vương Thị Ngọc Liên và chị Nguyễn Thị Minh Tâm người bạn học cùng lớp MS 65-68 -- Hình chụp thời đang học NLS Bảo Lộc  
 
 
Chị Vương Thị Ngọc Liên cùng vợ chồng người em, Đức - Mai, trong một chuyến đó đây trên chuyến tàu về miền băng giá Alaska