alt
2011
Bây giờ đã trở thành thánh tích, thánh địa của một nhóm người, trong mỗi một là vùng trời ký ức vàng son, vùng trời kỷ niệm êm đềm, ai cũng muốn cất giữ riêng mình là điều hiển nhiên vì không ai giống ai, từ chỗ ăn chỗ ngủ, chỗ học hành, chỗ vui chơi… rồi anh nam, chị bắc, người đông, kẻ tây... tuổi nhiều tuổi ít… người trước, người sau… Trong vô vàn cái riêng khó lòng diễn đạt đó lại có một cái chung xuyên suốt như có một lệnh vô hình xâu kết lại, không ai bảo ai tự nhiên chấp nhận, tự nhiên tôn trọng gìn giữ theo đúng qui luật tự nhiên có trên có dưới, có trước có sau, thành tâm như những tín đồ chấp nhận giáo điều đang trong cuộc hành hương tìm về đất hứa !

Anh, Chị và cả tôi nữa đã là thần dân được sống trong vùng thánh địa đó, từ vô tình? Từ cố ý? Tất cả là định mệnh, một định mệnh ngọt ngào, có thần dân nào oán trách? Không! chưa hề có và sẽ không bao giờ có! Vì vương triều ấy đã vào cái riêng của từng người với tất cả cái tinh anh được bảo bọc bằng tình quý mến và lòng tự hào, không sức mạnh nào lay chuyển nổi, không phải mới bây giờ mà hơn nửa thế kỷ trước cái chất, tính ấy đã được phát khởi tự nhiên khi thịt da cái xứ sở ấy thật đơn sơ lọt thỏm vào khoảng hoang sơ mịt mùng, rừng dày nguyên thủy. Nó được hình thành từ bao giờ? Biết đâu mà truy lục? Những thần dân đầu tiên ấy có cả những người phương tây, những người tây học trở về, chỉ những người nhân viên văn phòng đánh máy so với dân lập cư, bản địa đã là một cách biệt quá xa đầy lòng kính trọng được gọi là ông thông, ông phán rồi… nó không phải là thủ phủ hành chính quyết định cuộc sống cho xã hội đương thời, nó là lãnh địa riêng,có lẽ ra đời cùng thời với những plantation của Bischenee’, Chauvel, Lagi... là những sở trà của “thần dân mẫu quốc”, nó có tên là Sở Mới gọi thế có nghĩa là có Sở Cũ? Vậy sở cũ ở đâu? Chắc chắn trong chúng ta còn nhớ “Blao-Phẹc” Blao vốn là tên một buôn người thượng gần núi Đại Bình được chính quyền bấy giờ lấy đặt tên quận (quận Blao). Còn Phẹc (ferme: trang trại, nông trang) trung tâm thực nghiệm, nghiên cứu canh nông là Sở Cũ ? Ở đó trong khuôn viên có tượng một con trâu được đắp bằng xi măng, ở đó là nơi xuất phát 2 giống trà nổi danh TB14-TB18, ở đó dân làm sở tập trung thành một khu dân cư cách xa văn phòng quận Blao khoảng 5 cây số.

Sở Mới, cũng có thể từ một cơ ngơi được lập dưới thời Pháp, dưới sự điều hành của một người Pháp rồi bà con quanh vùng lầm tưởng đây là một đồn điền, một trang trại mà thời ấy quen gọi là Sở, vì mới được lập nên gọi là Sở Mới?

Và tôi đã nhập tâm cái tên Sở Mới đó một cách tự nhiên như hơi thở như nhịp tim… và không có gì bận tâm…cái tuổi thơ ngây ấy mà! Để rồi ngày ngày nghe tiếng trống “Tùng, tùng…” sáng, trưa, chiều, đó là giờ làm việc, giờ nghỉ việc… nó là cái chuẩn mực, nó là cái đồng hồ cho dân cư ở đây! Tôi cũng còn biết cái cơ ngơi này kéo dài một khoảng theo quốc lộ 20 với hàng rào trụ xi  măng thấp giăng kẽm gai và trồng cây ngũ sắc (lantana) mà đến cái thời Nông Lâm Súc nếu tinh ý ta còn thấy hàng rào cùng loại cây này còn sót lại.

Ngày ấy Bảo Lộc có gì để vui chơi với bọn trẻ lên 8, lên 10 như chúng tôi? Chúng tôi chỉ biết leo trèo phá phách, lội suối tắm ao, nhưng với cái xứ sớ phát ra tiếng “tùng, tùng...” sáng trưa ấy và chỉ cái ranh giới thô sơ được kể như trên, đố đứa nào dám bước vào. Vì đó là Sở Mới!
Rồi không rõ từ đâu nam thanh nữ tú kéo về, họ ra vào khu lãnh địa đó, họ là sinh viên dân quanh vùng bớt dần dùng tên Sở Mới để bắt đầu gọi Trường Quốc Gia… có những chiếc xe lạ chạy vào làng người ta quen gọi là máy cày, rồi những anh chị sinh viên ấy gần với dân nhiều hơn, họ đi chợ, họ đi chùa, đi nhà thờ... vào những ngày lễ và chủ nhật…

Để rồi một ngày hội được mở ra, tôi được vào nơi ấy, được trang trí nhiều cờ, hoa, rất đông người, rất nhiều xe cộ và cả lính tráng nữa, thằng bé con như tôi sau khi cầm cờ xếp hàng chào đón theo lệnh của thầy cô ở trường tiểu học, rồi loanh quanh rong chơi, nhớ cảnh mấy anh chị giả làm nông dân múa bài cấy lúa trong một tấm bạt đổ nước giả ruộng lúa... và thấy được một vị mập lùn, mặc complet trắng. Sau này tôi mới biết đó là Tổng Thống Ngô Đình Diệm lên đặt đá xây dựng trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao. Từ đó cái rào cản Sở Mới đối với nhóm trẻ chúng tôi như chừng được nới lỏng, nên đã hình thành các mũi tiến công thâm nhập như sau:
Một: Ngoài những ngày học bọn chúng tôi thường tụ năm tụ ba len lỏi vào rừng cây của trường, ở đó có những quả cách ăn chua chua ngọt ngọt, những quả cóc rừng chua chua ăn nhiều khé cổ, còn những quả bứa nữa chứ chua ngọt đầy mủ, riết thành quen để rồi lân la quanh căn nhà gỗ có mấy cây cọ đập lớp vỏ cứng để nhai phần cơm tựa cơm dừa béo ngậy bên trong… Có lúc lại tìm đến những đống sỏi ở các công trình đang xây dựng để tìm những cục đá lửa (gọi thế khi ta cầm 2 cục đá loại này đập vào nhau trong bóng tối thì thấy ửng sáng lên ngay chỗ đâp, thực ra nó là những mẫu thạch anh bể vỡ ra) hoặc nhặt những sỏi tròn như viên bi làm đạn bắn ná, những viên sỏi nhỏ này thời ấy được dùng để đổ bê tông cốt thép thay cho đá 1.2 hiện giờ. Tôi nhớ mang máng rằng xây dựng cơ ngơi này là nhà thầu Tô Công Văn và Bạch Văn Thuỷ… nhiều công trình được dựng lên lắm… Ba tôi và một số người dân quanh vùng cũng vào làm thợ cho các công trình này, các biệt thự của giáo sư được xây dựng trước tiên,
Hai: Có một vùng đất chúng tôi đã thâm nhập từ lâu không ngờ nó cũng nằm trong lãnh địa của Sở Mới này, nằm ở mạn bắc đường 20 trước chùa và nhà thờ, ở đó có chuồng bò là một ngôi nhà lợp tôn khá lớn nằm giữa một đồi cỏ hoang cạnh con đường đất dẫn đến một con suối, đó là suối số 3 là nơi chúng tôi thường chạy xuống tắm sau những trận đá bóng tại sân trường Trí Đức cạnh chùa, thời đó gọi là đá bóng chứ thực ra là đá những trái bưởi để héo mà thôi, cái làng Công Hinh nghèo nàn quê mùa ấy tìm đâu ra trái bóng da để đá, cho nên nhiều anh em trong chúng tôi đều bị méo mó các móng chân đó là di chứng của thời chơi banh bưởi. Căn nhà lợp tôn nêu trên được dùng làm nơi họp chợ đầu tiên của Blao (1954) khu chợ này trong mấy năm bị cháy 2 lần, nhưng căn nhà trên không hề hấn gì nên sau đó được gỡ ra làm bệnh viện đầu tiên cho xứ này trước nhà thờ Bảo Lộc. Khu vực này chính là khu chợ cũ.  Thêm một suối đáng nhớ, đó là suối số 1 còn được gọi là suối lò than (nơi ấy có một số hầm đốt cây lấy than củi) là cửa ngõ chạy vào đồng cỏ ngút ngàn của Sở Mới bấy giờ, ở đó cỏ được trồng phân lô, với nhiều loại cỏ khác nhau… Cạnh đồng cỏ sát bìa rừng có một căn nhà nhỏ dành cho người gác rừng căn nhà đó đến nay (năm 2010) vẫn còn dù rằng có ít nhiều thay đổi. Một điều không quên ở mạn đông của đồng cỏ tiếp giáp với sở trà Bischenee’ là một rừng sim, chúng tôi từng lội vào đây vào mùa sim chín, ôi những cây sim cao to quá cỡ, không phải ngày ấy mình còn bé mà cảm nhận như vậy đâu, vì tại rừng này đây những người thượng đã chặt những thân sim thẳng cao 2-2.50m to cỡ cổ tay có nạng đem bán cho người Kinh làm giàn trồng su su, vì loại cây này rất cứng và không bị mối mọt đục phá.
Còn một suối nữa, đó là suối ông Bảy Vẽ, gọi tên như thế vì nó trước nhà ông Bảy Vẽ (thời ấy bà con mình thường đặt tên một địa danh dựa vào danh tánh của người tìm ra hay gần vị trí nhà người nào đó). Suối ông Bảy Vẽ nằm trên đường tắt từ quốc lộ 20 xuyên rừng sang sở trà Bischenee’ là một vũng nhỏ có 2 tảng đá lớn kè hai bên bờ, mà thời tuổi trẻ chúng tôi có thể bơi lội được. Đó là điểm vui chơi của chúng tôi khi theo học ở trường tiểu học (sau là trường Nữ Tiểu Học nay là nhà hàng Tâm Châu).
Ngay chỗ 2 tảng đá của suối Bảy Vẽ khoảng năm 1959 người ta ngăn lại để tạo hồ nước cho đến bây giờ, như vậy gọi là có 3 suối thực sự nằm trên một dòng mà thôi, qua khỏi chặng gọi là suối Bảy Vẽ, ta đên Suối ông Lý Xướng, suối ông Thẩm đến suối ông Cai Dậu (chính là ông Nguyễn Đình Lạc nhân viên phụ trách vườn cây ăn trái, vườn ương của trường Nông Lâm Mục, Nông Lâm Súc chúng ta...) Đến năm 1959 phần đất nêu trên được giao cho tỉnh Lâm Đồng xây dựng khu văn phòng tỉnh lỵ và chợ Bảo Lộc
Ba: Có thể nhờ anh chị sinh viên Quốc Gia Nông Lâm Mục mà chúng tôi tiếp tục xâm nhập phần đất nữa nằm cánh tây của khu trung tâm tính từ nhà giáo sư số một chạy theo đường 20 hướng về Sài gòn đến tiệm trà Đỗ Hữu, nơi đó có đặt cột mốc ranh giới của trường bằng xi măng hình chóp tam giác khá to. Toàn bộ khu vực này là một thảm rừng khá dày. Chúng tôi vào đây để kiếm lan, bởi lẽ những lần vào trường xem đá banh chúng tôi thấy được những cụm lan rừng treo bên cửa sổ hay lan can nhà ngủ của anh chị sinh viên, để có thể khẳng định ngành chơi lan rừng tại Bảo lộc bắt đầu từ trường Quốc Gia Nông Lâm Mục.

Trong vùng rừng này chúng tôi đã tìm được nhiều nhất là Bạch Thuỷ Tiên, Hoàng Phi Hạc, Đại Ý Thảo và một số Trường Kiếm… Nơi đây chúng tôi có lần bị lạc, có lần đi sâu vào tận Đồi Ma cũng có lần chui rúc lại gặp lô cà phê mít của trường lần đó cả bọn rủ nhau chạy thục mạng vì sợ bị nghi vào ăn cắp cà phê vốn là loại cây trái quí thời bấy giờ. Ngày ấy lan rừng mọc khá nhiều, không phải đi đâu xa chỉ quanh quẩn các cây cạnh nhà giáo sư 1-2-3 là đã có lan rồi, tôi may mắn hơn các bạn vì nhóm kỹ thuật thực hiện công trình xây dựng trường thuê nhà của cô tôi trước nhà số 1 để ở, ỷ có chút quen đó nên tôi đã hái được những giò lan quanh nhà tôi vừa kể…

Không lâu khu định cư Thánh Tâm thành hình, dòng suối duy nhất quen gọi là suối ông Quản của khu vực này cũng được chận lại làm hồ nước… mãi đến năm 1965-1966 cái hồ mới tạm thành hình, vì gần tiệm trà Đỗ Hữu người quanh vùng quen gọi là hồ Đỗ Hữu.

Tôi không nhớ rõ lúc nào tiếng chuông đã thay cho tiếng trống báo hiệu giờ làm, giờ nghỉ, để rồi đêm đêm tôi thấy được một vùng sáng vượt qua tàng cây rậm lá, bởi lẽ chỉ nơi ấy có điện có những đêm là một vùng sáng màu hồng rực rỡ xuất phát từ hệ thống đền néon trang trí chạy theo chữ trước Đại Thính Đường.
Những hoạt động của trường gần với người Blao hơn, như những lần cứu cháy ở chợ, những chiếc xe hoa đặc sắc vào ngày Phật Đản, Quốc Khánh… Những trận đá bóng, biểu diễn bóng bàn của nhóm Mai Văn Hoà, Lê Văn Tiết…nhớ đến anh Nghĩa, anh Ca đến chùa sinh hoạt với Gia Đình Phật Tử, trong một màn múa hai anh phải giả gái để múa cùng các thiếu nữ, riêng tôi cũng có dịp vào Đại Thính Đường khi có buổi thuyết pháp của Đại Đức Thích Thiện Châu, ngày đó chúng tôi làm hàng rào đứng chung quanh bục giảng của người.

Từ những sự việc ấy, nhóm trẻ chúng tôi ai nấy cũng mơ ước sau này được làm một người theo học nơi đây dù rằng còn rất lâu, bởi vì chúng tôi đang còn ở bậc tiểu học và có lên trung học thì nơi đây vẫn chưa có trường không biết học nơi nào?
Rồi thì cũng qua 4 năm trung học ở Di linh, đang theo học ở Đà lạt chuẩn bị cho bằng Tú Tài thì ba tôi lên tận nơi gọi về thi vào Trung Học Nông Lâm Súc Bảo Lộc, đó chính là trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao được đổi tên, là quyết định của ông và chính là niềm mơ ước của tôi. Tháng 11 năm 1963 tôi chính thức trở thành thần dân Nông Lâm Súc Bảo lộc. Từ đó được biết các phòng học, các phòng thí nghiệm, thư viện… các phương tiện trang bị cho học tập và đời sống đều do trường Quốc Gia Nông Lâm Mục để lại vô cùng phong phú, với cảnh quan vô cùng xinh đẹp, tên gọi không còn là sinh viên như các khoá đàn anh nữa nhưng với chúng tôi mang danh Học Viên Nông Lâm Súc là một tự hào rồi...

Đây là bước xâm nhập cuối cùng vào cơ ngơi mà đã nhiều năm tôi biết đến. Chúng tôi không bị tuần lễ huấn nhục như các khoá đàn anh, nhưng những hoạt động làm quen với một thành viên NLS đối với nhóm thư sinh như chúng tôi quả là quá nặng nề, cực nhọc nhất là những nường cư dân thành phố ăn trắng mặc trơn... phải lội hái cà phê đến rát bỏng cả tay, phải xúc phân chuồng, phải dọn vệ sinh chuồng gà, chuồng heo, phải di chuyển và trồng những cây khuynh diệp mới được du nhập vào VN mà ngày nay nó vẫn tồn tại trước trường và một số cây ở trường Trung học Công lập Bảo Lộc cũng như quanh toà hành chính tỉnh.

Tôi theo ban Thuỷ Lâm, chính vì thế mà tôi được thâm nhập vào khu rừng mạn bắc của trường, ở đó từ chuồng bò có một con đường đât dẫn đến lô trà giống số 10, gần sóc thượng B’Kẹ khoảng rừng này có những đầm nước nhỏ nên có những trảng cỏ thường là điểm du ngoạn của anh chị em học viên, đó là những khoảnh khắc quí báu của những ngày tháng yên bình. Cuối năm 1966 trong điểm thực tập kiểm sự Thuỷ Lâm đầu tiên tại trường, được thầy Lê Thiệp dẫn đạp rừng thì tôi đã thấy bên cạnh chuồng bò có một đồn lính nghĩa quân, còn trong rừng nhóm cưa gỗ lậu đã phá lổ chỗ, xa hơn nữa gần B’Kẹ phần rừng bị phá sạch với mục đích làm hành lang an toàn cho sân bay Quân sự mới thành hình.
Năm năm sau tôi trở lại, khu vực trung tâm trường vẫn như xưa, nhưng mấy trăm mẫu rừng không còn nữa, nghe nói vì vấn đề an ninh nên phải loại bỏ và dân quanh vùng đã vào chiếm đất canh tác nông nghiệp.
Tôi xin được ngừng nơi đây, nó là sản phẩm từ ký ức cá nhân, từ một góc nhìn riêng như một sự bổ sung thêm… Hy vọng giúp các anh chị mường tượng về một vùng đất, một cơ ngơi mà chúng ta hằng thương mến và riêng tôi nó đã thành huyền thoại.
 
Bùi Tho  Blao
Viết từ nỗi nhớ
 
(Trích Đặc San 2010)