alt

Các bạn vào trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc của những năm 1965 -1970 chắc không thể nào quên một người bạn, một cô em gái hay một người chị. Chị Nguyễn Thị Thứ có dáng dấp thon nhỏ, khuôn mặt mi-nhon và đôi mắt to hiền hoà. Chị đến trường học năm đệ Ngũ 1965, qua năm 1967 tôi vào lớp đệ tam Canh Nông cùng lớp với chị. Các bạn cùng lớp thường bảo nhau, cô bé nhỏ nhất lớp và cũng là người xinh xắn nhất lớp. Chị là cháu của thầy Nguyễn văn Nhuệ, là người học trò ngoan, chăm học, chơi rất thân với các chị Lan Hương, chị Thường và chị Kim Anh.

Đến trường cùng năm, 1967 với tôi, anh Lương Chí Dzũng học ban Thuỷ Lâm. Anh là một cậu ấm, một tay lãng tử kỳ hồ, có lẽ đã chán cuộc chơi nơi đất Sài thành, hay do cha mẹ ép nên khăn gói quả mướp đến một thị trấn nhỏ Bảo Lộc, miền đất đỏ và sương mù ở ẩn. Do quen biết giữa hai gia đình, ông bà thân sinh gởi gấm cậu con lên Bảo Lộc với ước mong vào sự khéo léo của một nhà giáo, Thầy Nguyễn Văn Nhuệ giúp Dzũng vào khuôn mẫu, chú tâm hơn vào việc hành.

Những năm tháng trên trường, một người là cháu, một người được sự đặc biệt quan tâm của Thầy Nhuệ. Từ đó, có lẽ lòng phải lòng, tình cảm về chàng trai có dịp cận kề đã thầm kín, ôm ấp, nhem nhúm trong chị nhưng ngược lại chàng thả hồn theo bóng hồng khác. Chính chị đã chuyển giúp những bức thư tình lâm ly của chàng đến cô bạn cùng lớp mình. Có lẽ duyên trời đã định, cuộc tình thả rong của chàng không neo bến nào. Khi rời trường, chị Thứ về làm việc trong văn phòng Nghị Sĩ của thầy Nguyễn văn Nhuệ; chàng Dzũng quay lại thành đô. Họ đã gặp lại, cuộc tình nẩy nở. Họ yêu nhau và sau đó quyết định đi đến hôn nhân.

Như bất cứ cuộc hôn nhân nào của xã hội nặng tính gia đình Việt Nam, hội đồng gia tộc bên họ nhà gái đã phải họp lại để quyết định về việc gia thất giữa Dzũng và Thứ. Cuối cùng tình yêu đã thắng duyên nợ đã được ông tơ, bà nguyệt kết chặt từ đó đến nay trong hạnh phúc lứa đôi.

Cuộc đời đã đưa tôi đi xa, không có dịp gặp cả hai. Mãi đến 2005 nhân có dịp về Việt Nam và trong buổi hợp mặt bạn bè cũ tôi gặp lại cô bạn học ngày nào và được biết về nhân duyên của họ.

Tháng 7 năm 2009, nghe tin dữ, Thứ phát hiện bị bướu trong đầu, bạn bè thầy cô NLS Bảo Lộc đã giúp Dzũng lo cho Thứ..., nhưng đến ngày 5 tháng 10 năm 2009 thì được tin Thứ ra đi trong sự thương tiếc của người thân và bạn bè. Nhân chuyến về Việt Nam vào tháng 3/2010 vừa qua để dự ngày giỗ của cha tôi. Gần như mỗi năm về cũng là cơ hội tôi gặp một số bạn học cùng lớp cùng trường từ tình cảm gắn bó khởi nguồn từ NLS Bảo Lộc dù đã hơn bốn mươi năm qua đi. Dịp nầy, tôi gặp lại và được Lương Chí Dzũng đưa tôi đến thăm ngôi mộ chí của vợ, chị Nguyễn Thị Thứ.

Đứng trước mộ nàng, lòng tôi se lại nhớ lại một khoảng đời xa xưa. Thời của tuổi xuân. Tôi nhớ rất rõ khuôn mặt của từng bạn bè cùng thời và là chứng nhân đời sống họ nhất là đôi uyên ương Lương Chí Dzũng và Nguyễn Thị Thứ.

alt

Mộ của Thứ tại nghĩa trang Bình Đa, quận Bình Chánh. Tôi thắp nén hương và ngậm ngùi khi đọc những vần thơ của người chồng, Lương chí Dzũng khắc trên bia mộ, bài thơ Nghiã Tình:

 

Mình vừa là chị là em
Tấm lòng người vợ trái tim bạn đời
Bây giờ đến phút chia ly
Hai ta anh đã là người tiễn em
Xót mình đã lắm thương đau
Anh xin làm kẻ đi sau đó mình
Cuộc đời đâu phải phù sinh
Nước non chan chứa nghĩa tình, Thứ ơi!

Tôi cũng được đọc bài thơ làm sẵn như lời dặn dò con cái về ước nguyện của Dzũng.


 

CẢM-TẠ


Cảm ơn Thiên-Chúa đã ban
Cho con xum họp với người con thương
Giờ đây Bố đã thoả lòng
Các con ở lại dương trần với nhau
Nhớ lời Cha Mẹ bảo bần
Yêu thương đùm bọc cùng nhau sau này
Hai ta ở dưới suối vàng
Mẹ Cha toại nguyện nhìn đàn con yêu
Phu Thê nghiã nặng tình sâu
Tình chồng nghiã vợ sau này biệt ly.

Xin san sẻ với tất cả mối tình thật đẹp, nghĩa tào khê trọn vẹn của đôi uyên ương Dzũng-Thứ.

Nguyễn Hưng Thái
Xuân 2010