alt
Chị Huỳnh Thị Hương và ban Báo Chí 2010

Bảo Lộc là một tỉnh lẻ nơi miền cao nguyên Nam Trung phần VN. Vào những năm tôi học ở đó thành phố rất êm đềm, dân cư thưa thớt, nhà của còn rất đơn sơ. Chỉ có con đường dọc theo Quốc lộ 20 vì có xe đò liên tỉnh qua lại có nhiều quán xá, dân chúng tụ tập làm ăn buôn bán nên có phần tấp nập hơn. Khi xe vừa xuống hết đèo Bảo Lộc, trên quốc lộ, nhìn bên phía trái sẽ thấy ngay một cổng trường thật to, ghi rõ hàng chữ Trường Trung Học Nông Lâm Súc Bảo Lộc.

Quả không sai nếu nói trường là một thành phố nhỏ nằm trong một thành phố lớn hơn, thị xã Lâm Đồng, tỉnh Bảo Lộc vì trường rất đầy đủ tiện nghi. Từ điện nước, máy móc nông cụ cho đến một Đại Giảng Đường lớn như một rap hát mà chúng ta thường gọi là Đại Thính Đường. Khi đến trường chúng tôi còn mang theo những khí cụ như đàn, trống, trang phục… nên chúng tôi luôn có đủ phương tiện để tổ chức những sinh hoạt tập thể để vừa học, vừa chơi, vừa thưởng thức và còn gây âm hưởng cả phố phường bên ngoài.
 
Tôi vào trường vào năm 1963, lớp đệ ngũ, đó là năm đầu tiên trường chuyển sang hệ trung học. Mỗi năm học sinh đểu bầu ra ban đại diện học sinh. Thường các anh chị trong Ban Đại Diện là những học sinh lớp lớn nhất, sống nội trú lâu năm. Lúc mới vào tôi còn ở lớp nhỏ nhất nhưng với tánh tình năng động mà lại có chút máu mê văn nghệ, thơ, văn của cha mẹ ban cho nên mọi hoạt động văn nghệ, báo chí cùa trường tôi đều tham dự.
 
Đến niên học 66-67, khi tôi lên lớp đệ nhị CN thì trường có tuyển cử ra vài liên danh để học sinh bầu làm ban đại diện cho niên khoá đó. Liên danh của tôi do anh Lê Công Hậu, đệ nhị CN, làm trưởng ban đại diện được đắc cử với thành phần trong ban được phân phối như sau: anh Lê Văn Khả, đệ nhất CN, làm trưởng ban Văn nghệ, anh Nguyễn Văn Bảy A, đệ nhị CN làm trưởng ban Kinh tế, và tôi, Huỳnh thị Hương, đệ nhị CN làm trưởng ban Báo Chí, cùng anh Vũ Minh Yên, đệ tam TL, làm phó ban. Một số anh chị khác làm trưởng ban, phó ban Xã hội và Thể thao tôi đã quên tên.
 
Thế là tôi bắt đầu… làm báo. Mặc dầu tôi là học trò giỏi của hai thầy dạy việt văn Nguyễn Văn Vũ và Phan Quang Định nhưng về việc làm báo thì tôi chưa bao giờ biết làm. Nhưng khi đã lãnh trách nhiệm thì phải cố gắng làm tròn. Lúc đầu tôi kêu gọi những anh chị em nào có khả năng viết lách, có nét chữ đẹp, vẽ đẹp thì xin vui lòng hợp tác. Rất may tôi có được sự giúp đỡ của nhiều anh như Nguyễn Vợi, đệ nhất CN, biết đánh máy, đánh stencil, Hồng Văn An, Đệ nhất CN, anh Trần Công Minh, đệ nhị CN, đề tựa và vẽ đẹp, anh Nguyễn Hoàng Minh, đệ tam TL, viết chữ đẹp, Nguyễn Kim Nguyên, cô bạn thân cùng lớp và một số anh chị em nữa như Liên mà tôi đã quên họ, thường trực có mặt ở văn phòng của Ban Báo Chí tại nhà cây thứ ba, cạnh căn cuối cùng mà tôi, Nguyên và các chị khác trú ngụ năm đó để nhường lưu xá D cho các học sinh nữ mới vào trường.
 
Khởi đầu, mỗi tháng chúng tôi làm một tờ bích báo dán ở Câu Lạc Bộ, nơi có nhiều học sinh thường lui tới sau giờ học để dùng cơm trưa và chiều. Chúng tôi dùng một tờ giấy vẽ nguyên khổ lớn, anh Trần Công Minh vẽ khung và đề tựa từng bài. Tôi và Yên thu thập bài viết, nhờ các anh chị nào viết chữ đẹp chép lại trên giấy pelure màu rồi dán lên khung đã vẽ sẵn. Sau giờ học, có những đêm phải thức khuya để học thi nhưng mỗi tháng vẫn ra một tờ bích báo. Chúng tôi cũng không biết là việc làm của mình có được các học sinh khác đọc hay liếc mắt qua hay không? Rêng chúng tôi thì lúc nào cũng làm việc rất hăng say và bằng lòng với thành tích của mình dù phải mất rất nhiều thì giờ.
 
Cho đến cuối năm 66, Thầy Nghiêm Xuân Thịnh mới vừa về làm Hiêu trưởng. Lúc đó trường có ngân quỹ sinh hoạt cho từng ban, Thầy khuyến khích Ban Báo Chí nên ra một tờ báo Xuân, với phương tiện hạn hẹp của trường chỉ có một máy đánh sten­cil và một máy quay ronéo. Thầy đã hướng dẫn tôi đến cơ quan quân sự Mỹ Đồng Minh, căn cứ của họ kế bên trường, qua thông dịch của Thầy tôi xin được một số giấy đánh máy, giấy stencil và mực màu. Thế là chúng tôi bắt tay vào việc.
 
Bài viết sau khi chọn xong, anh Vợi đánh máy, anh An dùng bút mực lá tre để minh họa và đề tựa rồi pha mực quay ronéo. Xin được mực màu nào chúng đều tận dụng màu đó. Chỉ có màu đỏ là khó dùng nhất phải pha với màu xanh hay đen, nên trên trang báo có nhiều màu rất đẹp. Còn về hình bìa thì hình vẽ của anh Nguyễn Trọng Thu được chọn. Anh được cử lên Đà Lạt tìm nhà in, để in hình màu nhưng giá quá mắc nên chúng tôi quyết định in thường rồi tự tô màu. Chúng tôi làm việc ban ngày đến khuya với sự hướng dẫn của thầy Vũ. Quý Thầy trong Ban Quản Trị học sinh cho chúng được tăng viện thêm 5 anh chi em thay phiên nhau mỗi ngày được nghỉ học để giúp chúng tôi. Cũng nhờ đó mà anh Lung vì muốn trốn học có giấy phép nên ngày nào cũng “đột nhập” phòng báo chí. Lúc đó anh mới vào lớp đệ tam TL và ở cùng phòng với Yên. Không biết anh dùng cách nào mà mỗi ngày đều được Yên điền vào danh sách nghỉ học. Khả năng của anh có thừa cho những việc khác, còn về báo chí thì anh không phụ giúp được gì. Anh chỉ biết dùng khả năng biết đùa làm anh em vui, dùng khả năng tán tỉnh để làm cô trưởng ban lưu tâm. Nhiều lần tôi yêu cầu Yên là thay người khác nhưng rồi mỗi sáng, hay sau giờ học ban chiều khi tôi đến phòng báo chí thì anh đã có mặt. Giận lắm, nhưng sự hiện diện của anh đã làm sinh hoạt vui nhộn hơn, anh em làm việc hăng hái hơn và lòng tôi cũng đâm ra rộn ràng. Rồi từ đó… cô trưởng ban cũng đã phải lòng chàng!
 
Mỗi cuối tuần chúng tôi chia ra từng nhóm ra phố xin quảng cáo để có thêm phần chè, cháo, hạt dẻ, hay ngon hơn là hột vịt lộn hay nước bún bò chị Tráng chấm bánh mì vừa ra lò cho những chuyên viên làm báo về khuya bụng đói. Chúng tôi đem hết khả năng của mình ra một cách say mê và đầy nhiệt tình măc dù tay chân, mặt mũi có lấm lem màu mực nhưng nụ cười cũng luôn rạng rỡ trên môi. Nhớ lại lúc đó, thấy mình ngây thơ một cách đáng yêu làm sao! Khoảng 2 tháng sau chúng tôi cho ra đời một tờ báo Xuân, tờ báo đầu tiên của trường TH NLS BL. Tôi không biết là sau nầy có nhóm nào ra báo Xuân nữa không? Có cảm thấy hãnh diện khi cầm tờ báo ra bán ở các công ty sở của tỉnh Bảo Lộc như tôi không? Riêng tôi, đó là một việc làm đắc ý nhất trong đời học sinh của mình. Và cũng nhờ đó mà tôi cảm thấy mình đã trưởng thành và tìm được tình yêu.
 
Hơn 40 năm sau, có lẽ nhờ thành tích của những tháng cũ, tôi hân hạnh được giao trọng trách Trưởng Ban Báo Chí của Hội Cưụ học sinh NLS BL. Khi anh Nguyễn Triệu Lương, năm 2007, đương nhiệm hội trưởng của Hội, đã đề nghị tôi thực hiện Đặc San, tôi nhận lời nhưng cũng chưa biết phải bắt đầu từ đâu. Thêm vào đó, tôi được quý Thầy Cô khuyến khích và các anh, chị, em đã cùng tôi cho ra đời liên tiếp hai tờ Đặc San 2007, 2008. Khác với xưa, nay chúng tôi hợp tác với nhau qua Email, qua điện thoại. Dù thời gian của nhau có khác, nơi tôi sống là ngày người hợp tác với tôi là đêm nhưng chúng tôi cũng cố tìm được thời điểm chung để liên lạc, bàn thảo công việc. Có khi bàn chuyện với anh Vương Thế Đức dài hằng giờ mà quên đì nơi anh ở đã 3 giờ sáng. Sự hăng say, lòng nhiệt huyết của thời trẻ vẫn còn đã giúp chúng tôi không ngại xa xôi, cách trở để mời gọi, cùng nhau làm việc trong tâm tình chung của những ngày xưa thân ái.
 
Khi chuẩn bị cho ra đời Đặc San kỳ thứ ba năm nay với chủ đề Xưa và Nay, làm tôi nhớ rất nhiều những ngày tôi cùng làm báo với anh chị em khi còn học trên trường. Tôi nhớ lại từng khung cảnh, từng người, từng lời nói, từng cử chỉ, từng chi tiết lúc chúng tôi thực hiện tờ báo Xuân.
 
Bây giờ cũng làm báo, sau hơn 40 năm chồng chất với nhiều thay đổi. Màu tóc xanh đã pha lắm màu trần. Khi xưa ngồi đối diện với nhau mà trao đổi từng câu nói, tiếng cười. Những anh em làm việc chung bây giờ gặp lại chưa chắc đã nhận được nhau. Thật là một sự mất mát rất lớn. Nay, người hợp tác, kẻ chân trời người gốc biển, chưa từng gặp mặt như trường hợp Nguyễn Thành Trung, mấy lúc gần đây tôi thường hay liên lạc.
 
Dù không thấu đáo kỹ thuật mới trong việc làm báo nhưng đã được sự giúp sức của các bạn trong Ban Biên Tập. Với lòng say mê đọc, thích viết, nhất là nhiệt tình thời trẻ vẫn còn. Nếu những ngày tháng học trò hãnh diện khi thực hiện những tờ bích báo và báo Xuân thì mấy mươi năm sau được sự tín nhiệm, hỗ trợ của Thầy Cô của các anh chị em giúp tôi thực hiện ba tờ Đặc San đã cho tôi niềm hạnh phúc vô ngần. Xin được gởi đến tất cả lời cám ơn chân thành của tôi.
 
Trước mặt núi Đại Bình mây phủ
Em ngồi ủ rủ dưới chiều mưa
Bầy chim nhỏ nằm yên trốn ngủ
Đôi lời nhắn nhủ khách qua chưa
Đây Bảo Lộc về qua phố cũ
Chân quen rảo bước tới trường xưa
Trà nóng nhưng lòng đâu ấm đủ
Dáng em ấp ủ bóng chiều sương.
 
Huỳnh Thị Hương
 
Trích Đặc san 2010