alt
 

Một nhà Văn người Pháp viết: “Nói về mình thì luôn luôn bằng thơ’’ (parler de soi est toujours en poésie). Thơ là tinh hoa của tiếng nói, của nhịp điệu, chất chứa những ý nghĩ tình cảm sâu lắng, đậm đà. Tình cảm có vui mà cũng có buồn, có hy vọng chan chứa mà cũng có những ai oán não nề. Tôi muốn nói về tập thể NLS “chúng mình”, nó đầy ắp chất thơ như thế. Chất thơ từ đất dậy lên, từ cây lành trái ngọt, từ đồng lúa xanh tươi lan tỏa, từ nghĩa tình đầm ấm đan kết chúng ta.

Như thông lệ, chuyến xe đò Sài Gòn-Bảo lộc dừng tại Định Quán, bước vào quán bên đường, vừa kéo ghế, tôi nghe:
 
- Thày, dạ thưa thày Vũ
- Anh, anh Nguyễn Hùynh Lang, hơn 25 năm rồi mới gặp lại.
 
- Dạ hơn 25 năm thày ạ, Thày lên Bảo Lộc? Em vừa từ Bảo lộc về. Thày nhớ Bùi Tho chứ? Em lên Trường xin mấy cây giống ca cao và xem có mấy thứ khác về trồng thử. Lên trường gặp lại Kính, Sơn, Kiệm nữa vui lắm, bao nhiêu chuyện cũ ôn lại. Thời ấy còn trẻ, bây giờ tất cả bước vào tuổi trung niên rồi.
 
Tôi có nhớ, nhớ nhiều những kỷ niệm đẹp thời xa xưa. Tôi hỏi anh về những người thân quen trong gia đình một thời gắn bó với ngôi trường cũ từ năm học 64-65 như anh Lang, chị Điệp, chị Huỳnh Mai ở những năm sau, thày Châu Bá Lộc dạy Mục Súc và thày Nguyễn Phi Long dạy Canh Nông.
 
Anh Lang kể cho tôi nghe câu chuyện quanh những khó khăn của từng thành phần trong gia đình anh thời ‘’bao cấp’’. Các anh chị Lộc, Điệp, Long trụ tại Trường Đại Học Nông Nghiệp Cần Thơ, còn riêng anh Lang và gia đình sống lai rai qua ngày, bám đất, bám vườn mà sống. Nhìn anh cao ốm lênh khênh, nước da sạm nắng, và nghe giọng nói rất hiền hoà cam phận, tôi cảm nhận được nếp sống đạm bạc anh đang trải nghiệm như bao nhiêu người cùng khổ bất đắc dĩ khác, khi mà bộ óc sáng tạo, thông minh với kiến thức và kỹ năng chuyên nghiệp về nông cơ, về quản lý doanh nghiệp, một thời anh đã từng học hỏi say mê lại bị ghìm chặt, nhường chỗ cho bàn tay và cơ bắp của các anh quen “gánh phân”, rành chăn bò…
 
Nhớ ngày xa xưa ấy, Thầy Nguyễn Phi Long và tôi có thật nhiều kỷ niệm đẹp, đẹp như ngôi Trường Mộng (school of dream) và đẹp như Trại Thực Nghiệm Canh Nông Lý Tưởng của vùng Đông Nam Á mà anh Long làm Quản Đốc. Mùa nào thức ấy, Anh Long dành cho chúng tôi, giáo sư Nông Lâm Súc những hoa trái đầu mùa, thành quả của những cây trái anh vừa thí nghiệm hoặc những giống mới vừa di thực, nhập về từ những nước tiên tiến. Tôi còn nhớ, những năm ấy, Trung Tâm của anh đã di nhập được giống Dứa (pineapple) lớn gấp ba bốn lần loại dứa quen thuộc đang bầy bán ngoài chợ thời ấy. Tôi biết chắc chắn rằng những công trình thực nghiệm của anh, của Trung Tâm Thực Nghiệm Bảo Lộc đã được anh đúc kết nâng lên thành lý luận và sớm truyền lại đầy đủ nhất cho các học viên Nông Lâm Súc Bảo Lộc, những người gần gủi và thân thương với anh hơn cả. Rồi sau đó anh mới nhân giống và phổ biến trên Tập San Nông Nghiệp cho nông dân gieo trồng. Chẳng phải riêng anh Long truyền “bí kíp” theo cung cách ấy, các đấng Sư Phụ như Đồng Phúc Hộ, Nguyễn Viết Trực, các Sư Huynh, Sư Tỷ Võ Thúy Lan, Dương Tuấn Ngọc, Võ Thị Vân, Nguyễn Thanh Vân, Văn Khắc Thái, Nguyễn Văn Khuy… cũng theo con đường truyền thống ấy mà đi. Bí kíp phải được đệ tử dàn trải thể nghiệm qua các buổi Thực Tập Nông Trại, mới thực thụ định hình, định vị trong tâm trí của mỗi học viên. Trong chiều hướng ấy Nông Lâm Súc Bảo Lộc xứng đáng mang danh TRƯỜNG KIỂU MẪU CHUYÊN NGÀNH (pi­lot agricultural school).
 
Cách nay độ vài năm, một số anh chị cựu học viên trường NLS-BL trong đó có chị Nguyễn Thị Huỳnh Mai, từ Mỹ qua Toronto cũng được anh chị Vương thế Đức đưa lại thăm gia đình tôi, qua liên hệ thân tộc tôi được chị Huỳnh Mai cho biết một ít tin tức về anh, thày Nguyễn Phi Long và gia đình.
 
Sau thời kỳ “bao cấp”, ngay từ những ngày đầu của giai đoạn “cởi trói, mở cửa”, cây trái miền Nam lớn mau và trải rộng giang dài, phủ xanh khắp miền Nam. Đồng bằng sông Cửu Long trở thành vựa lúa nuôi sống cả nước. Trường Đại Học Nông Nghiệp Cần Thơ và Sài Gòn là nơi phát xuất kiến thức và kỹ năng nông nghiệp, là ngọn đèn định hướng. Tại hai Trường Đại Học ấy, chỉ riêng gia đình anh Long đã đóng góp ba nhân tố thuộc đẳng cấp thượng thừa: anh Long, chị Điệp và anh Châu Bá Lộc. Ở Đại Học Nông Nghiệp Sài Gòn, làm sao không nhắc đến sự đóng góp của các anh Trần Văn Tú, Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Văn Thiệu, Văn Khắc Thái và bao nhiêu anh chị khác, các anh chị xuất thân từ Trường Cao Đẳng Sư Phạm NLS, Trung Đẳng Chuyên Ngành của mạng lưới Trung học Nông lâm Súc trải rộng khắp cả miền Trung và miền Nam. Một phần không nhỏ các anh chị ấy có chung một mái trưòng Mẹ. Họ từng ăn cơm Nhà Bàn, từng dạo bước trên Hoàng Hoa Lộ Bảo Lộc thân thương.
 
oOo
 
Je sème à tout vent - Tự Điển tiếng Pháp Larousse nhỏ (Le Petit Larousse) nổi tiếng tại các vùng nói tiếng Pháp (pays francophones), cuốn tự điển không thể thiếu được đối với bất cứ ai học tiếng Pháp trước 1975. Cuốn sách gồm hai phần, một phần từ ngữ và một phần minh họa, mỗi năm đều tái bản một lần, ngoài bìa bao giờ cũng là hình thiếu nữ cầm cành hoa Bồ Công Anh, thổi bay theo chiều gió đi khắp bốn phương trời, mười phương đất, kèm theo lời chú: Je sème à tou vent (tôi gieo giống đi theo mọi phương gió thổi.)
 
Vừa mới đây, chuông điện thoại nhà tôi chợt reo, tôi nhấc máy:
 
- Dạ thưa Thày, em đây, Hương Lung đây. Thầy có khỏe không?
 
Chị Hương hiện giờ đang làm việc về cây cảnh và hoa cho một công ty lớn miền Thung Lũng Vàng San Jose, California. May mắn cho chị vẫn làm việc trong ngành. Ngay ở tuổi thiếu niên 14, 15 chị đã sớm tìm đến NLS trau dồi kiến thức và kỹ năng. Trong ba năm giảng dạy tại NLS-BL, tôi thấy chị luôn luôn tích cực tham gia sinh hoạt học đường, sinh hoạt ngoại khóa, văn nghệ thi ca, báo chí. Chị Hương là con chim đầu đàn mở lối cho phong trào Bích Báo thời ấy, cùng với anh Nguyễn Đình Phê, thành lập nhóm Văn Bút Sao Ly. Chị còn tích cực xông xáo mỗi khi nhà Trường tổ chức thăm viếng Chiến Sĩ Tiền Đồn quanh vùng Bảo Lộc. Sau năm năm học tập, chị vẫn chọn con đường ấy mà đi. Chị theo ngành sư phạm NLS, sau khi tốt nghiệp chị về phục vụ ở Bình Dương, cùng với các anh Đức, Lung, Ngọc… cùng với cô thầy cũ, nay là đồng nghiệp như: thầy Huyền, thầy Định, cô Yến... nhưng tình sư đệ vẫn được giữ gìn.
 
Một lần, từ Tổng Nha Trung Tiểu Học đi ra, tình cờ tôi gặp cô giáo Hương hướng dẫn một đoàn học sinh Trung Học NLS Bình Dương vừa xuống khỏi xe buýt, đang sắp hàng đi vào Vườn Bách Thú Sài Gòn. Hương mặc chiếc áo dài màu gụ tươi, đúng phong cách Nông Lâm Súc. Thày trò hàn huyên giây lát. Tất nhiên, Trung Học NLS Bình Dương không đủ loài cây quí hiếm, không đủ những loài cầm thú như ngôi Trường Mẹ của chị ngày nào. Những buổi thăm viếng dã ngoại, giúp chị bổ túc cho các em những học liệu trong lớp mà trường còn thiếu.
 
Vào cuối thập niên 70, anh Vương thế Đức chọn Wind­sor, Canada làm vùng đất tạm dung. Cũng như bao nhiêu thuyền nhân khác, anh khởi nghiệp với nhiều vật vã... Sau một thời gian ngắn, anh về vùng phụ cận Toronto, tìm công việc để mưu sinh, nhưng định hướng cho tương lai, anh chọn theo học chuyên ngành computer và bước vào con đường mới. Thời gian qua đi và những gian nan lùi dần. Rồi anh bước qua lãnh vực thương mại. Một thời gian sau đó, cuộc sống ổn định hơn, với hoài bão của thời trẻ anh quyết định quay về con đường giáo dục đúng với sở thích của anh hơn.
 
Đôi lần có dịp được anh đón đến nhà vào mùa hè, trong mảnh vườn con sau nhà, tôi thấy những cành bông Bồ Công Anh đang vươn lên. Quyện trong làn gió, những cánh hoa lâm tâm li ti ấy bay đi, tôi mường tượng trong từng cọng hoa nhỏ bé ấy có vương vấn một chút hơi ấm của Trường Mẹ xa xưa. Làm tôi nhớ đến câu: Je sème à tou vent (tôi gieo giống đi theo mọi phương gió thổi).
 
Gia trang của anh chị, một Tụ Nghĩa Đường, anh chị ân cần đón tiếp bạn bè từ mọi nơi trên thế giới đến, kể cả từ Việt nam. Mỗi lần có “khách quen”, anh chị không nề hà, đưa tới thăm tôi. Đông lắm, chị Ngô Thị Ngọc Trang, Trần Thị Nữ, Trần Thị Ngọc, Nguyễn Thị Huỳnh Mai, Huỳnh Thị Hương, Đặng Tấn Lung, Huỳnh Văn Thắng, Lê Đình Bang, Ngô Thị Độc lập, Hàn Ngọc Chi, Trần Kim Thạnh, còn khá nhiều anh chị khác nữa...
 
Một lần khác, chị Ngô Ánh Thuấn từ Việt Nam sang Mỹ, vì chưa xin được visa sang Canada, anh chị Đức đã đưa chúng tôi sang một thành phố bên Mỹ giáp Canada để có một buổi hội ngộ thật cảm động bên cầu biên giới. Nơi đó tôi đã gặp lại những người học trò cũ mấy mươi năm không gặp. Hôm ấy có tôi, nhà tôi, anh chị Đức Mai, Nguyễn Kim Thu, Ngô Anh Thuấn, Đặng Thị Hoà Bình, Hàn Ngọc Chi.
 
Mỗi lần gặp gỡ, thày trò chúng tôi nhiều lần ôm nhau mà khóc, thổn thức, trong cảm động vì không ngờ trong đời còn gặp lại. Chúng tôi bồi hồi kể cho nhau chuỗi ngày tháng qua. Mỗi tâm sự chất chứa bao nhiêu niềm vui và rất nhiều chuyện buồn. Có những anh, những chị tôi chưa từng gặp một lần, thế mà chỉ trong giây phút, chúng tôi thân quen nhau lắm, quen như từng biết và sống với nhau thật lâu rồi. Anh Dương Phú Lộc đến với tôi là một trong những trường hợp như thế.
 
oOo
 
Nữ Thần Céres - Vào buổi khai thiên lập địa, nữ thần Céres được phân công biểu tượng cho lòng từ mẫu, đem lại ấm no, an vui đầm ấm cho mọi nhà, Cérès có quyền uy pháp thuật làm cho lúa trổ bông, ngô khoai ngập đồng, cây trái trỉu cành, muôn loài muôn vật sống chan hòa hạnh phúc. Nhưng ác thần có bao giờ chịu ngưng nghỉ, hạn hán bão tố, dịch bệnh khi ẩn, khi hiện, dưới muôn hình vạn trạng, mỗi ngày một lan rộng hơn quái ác hơn lên. Mẹ Ceres không làm sao chống đỡ, Mẹ bỏ cánh đồng lúa, thảm cỏ mà đi… Muôn vật muôn loài rơi vào thảm cảnh chết chóc vô vàn vô số…
 
Thấy các con mẹ khốn khổ điêu linh, mẹ vùng dậy, các con mẹ cũng dắt díu nhau, kết nối thành một vòng tay lớn, Mẹ cùng với các con vực lại nguồn sống, phủ xanh ruộng đồng, cây lại trĩu cành đâm hoa kết trái.
 
Vào khoảng giữa thập niên 80’ tình cờ tôi gặp anh Trần Danh Dự trước Nhà Bưu Điện Sài Gòn. Anh nói trước khi tôi kịp hỏi:
 
-Thày nhớ Trần Thanh Nghị không? Nghị bị bắn vào trán chết ngay khi đứng trên sàn Giang Thuyền chỉ huy.
 
Sau khi tốt nghiệp, anh Nghị không chọn con đường chuyên ngành mà anh gia nhâp Trường Sĩ Quan Hải Quân. Sau khi tốt nghiệp, anh chỉ huy một giang thuyền tuần tiễu trên sông rạch. Tôi còn nhớ, khi làm việc tại Nha Du Học, một nhóm các bạn vừa tốt nghiệp tới thăm, tôi hỏi có ai muốn đi du học không, cả nhóm đều lắc đầu cười trong số có Nguyễn Văn Huy, cháu ruột Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng. Huy gia nhập không quân. Nhiều người có cùng lựa chọn như Huy khi tốt nghiệp như: Anh Huỳnh Kim Thạch, Vương Đình Ánh, Trần Văn Hiệp, Huỳnh Văn Thắng, Quách Đình Khuê, Trần Thanh Nghị... lấy sông biển làm nhà. Anh Võ Văn Chín, Lê công Hậu, Lương Tường Khánh, Trần Văn Thuận, Lê Đình Bang, Mai Văn Phụng, Vương Đình Cảnh... nhận trách nhiệm gian khó cho trăm họ được yên, cho đồng lúa óng vàng, cho trái cây nặng trĩu đầu cành.
 
Khi cuộc chiến tàn, lao đao lận đận trong ngục tù… Có những anh vĩnh viễn tìm về cõi vĩnh hằng trong lòng mẹ Céres, để cùng với Mẹ giáng muôn vàn ơn phước xuống cho trăm họ được yên, nhà nhà ấm no, hạnh phúc.
 
Nguyễn Văn Vũ
Toronto, 15-5-2010
 
(Trích Đặc San 2010)