Thầy Phan Bá Sáu - Tấm gương kiên nhẫn

 

alt

Đầu niên khóa 1967-1968, một số giáo sư trẻ được bổ nhiệm về trường thay thế quý thầy chuyển trường khác, "Tứ Hùng Lương Sơn Bạc," gồm quý Thầy Phan Bá Sáu, Nguyễn Viết Huyền, Phạm Phước Bách, Phan Quang Định. Có lẽ Thầy Phan Bá Sáu là người lớn tuổi nhất.
 
Với dáng người cao gầy, phong cách đạo mạo, nghiêm trang nhưng thân thiện, năng động và ân cần giúp đỡ học trò nên Thầy được nhiều học sinh thương kính. Đặc biệt hơn, với bộ râu quai nón trên khuôn mặt trắng trẻo khôi ngô và biệt danh "Sáu Râu" được lan truyền từ thời ấy. Dù  nhiều học sinh cùng thời với tôi, đang học năm cuối, không có duyên được học trực tiếp với Thầy nhưng ai cũng biết và thương quý ông. Luồn sinh khí mới do các thầy trẻ mang đến qua các sinh hoạt thể thao, văn nghệ, cấm trại, du sát… chúng tôi cũng được hưởng lây. Những tháng ngày học năm cuối trên trường, tôi biết rất ít về ông nhưng sau này có dịp gặp một số bạn học cùng trường, nhất là sau cơn bão lửa năm 75, tản mác, thất lạc và nghe được nhiều điều nhắc nhớ về ông trong niềm thương kính đặc biệt.
 
Dòng sống đưa ông, đưa tôi xa ngôi trường cũ và dạt trôi đến chốn này, cách quê nhà một khoảng mù khơi. Phố cũ đã trôi xa nhưng hoài cảm về cố quận vẫn đậm đà. Những anh em NLS Bảo Lộc rời tổ mấy mươi năm, nhớ bầy đàn đã gọi nhau và cũng do duyên phước nên tôi được gặp lại Thầy trong dịp Đại Hội 4, ở một bến bờ lạ hoắc, San Jose, California vào năm 2007 sau gần 40 năm kể từ lúc rời trường năm 1968.
 
Tâm tình ngày cũ sống lại mãnh liệt, tay bắt mặt mừng, sau đó tôi liên lạc với Thầy thường và nhặt dần. Tôi được nhiều lần hầu chuyện với ông. Và qua đó, tôi có dịp lắng lòng nghe tâm tình thương quí trường, học trò và sự ân cần quan tâm của ông về những sinh hoạt của Hội, của anh em NLSBL. Trong tình thương yêu và với kinh nghiệm trải đời từ dòng sống ba đào của chính mình, ông luôn tích cực đóng góp, không chỉ vật chất mà còn những ý kiến thật hữu ích cho Hội, cho anh em và lúc nào cũng đầy ấp tình tự gởi gắm của người Thầy tử tế.
 
Trong sự thương kính do bạn bè hay đồng nghiệp của Thầy, nhiều mẩu chuyện được nghe, được kể về tính cương trực, nghĩa tình và sự rộng rãi của ông. Khi biết ý định viết về Thầy Sáu, một người bạn khá thân, thay vì viết, anh nhờ tôi ghi hộ đôi lời cám ơn, nhờ Thầy thương và cố giúp nên anh được tiếp tục học lại sau khi hỏng kỳ thi tú tài đôi. Nhờ đó, anh mới xong bậc trung học và có cơ hội thăng tiến sau này.
 
Những dòng dưới đây, tôi theo dấu chân Thầy để kể về một cuộc đời với những ba đào nhưng không bao giờ chịu thua cuộc.
 
oOo
 
Thầy Phan Bá Sáu gốc người Huế, sinh vào năm 1937 tại Đà Lạt và sống tại đó cho đến năm 8 tuổi. Ông là người con thứ sáu trong gia đình 7 anh em trai.
 
Năm 1945, biến cố lớn của thế giới là Nhật đầu hàng Đồng Minh và cũng là khúc quanh lịch sử  Việt Nam. Lúc ấy ông đang học những ngày cuối của lớp 2 trường Đan Nghĩa, Đà Lạt. Mặt trận Đà Lạt bùng nổ lớn, lực lượng yêu nước, kháng chiến thừa thế yếu của Nhật hô hào chiến dịch cướp chánh quyền. Cha ông và hai người anh trai lớn trong đội Vệ Quốc Quân tham gia chiến trường. Như bao nhiêu dân lành chạy lánh nạn khác, Mẹ ông dìu dắt mấy đứa con thơ, gồng gánh tìm cách chạy về Huế. Với bất cứ phương tiện nào Bà có thể tìm được để lần về quê cha, bằng xe ngựa, xe bò, tàu hỏa ngay cả đi bộ. Cuối cùng, Mẹ ông đùm đề mang các con nhỏ của mình về miền đất hứa – Huế.
 
Những năm kế tiếp là giai đoạn đầy khó khăn cho gia đình ông nên việc học đành tạm để sang bên. Tất cả đã dồn hết nỗ lực để kiếm sống  trong thời chiến. Tạm yên sống ở Huế chẳng được bao lâu, năm 1949, Pháp trở lại VN, cả gia đình ông theo lệnh của chánh quyền Việt Minh, lại rời bỏ thành phố Huế để vào vùng kháng chiến, Liên Khu Năm (Nam, Ngãi, Bình, Phú, vốn lấy tên Quảng Nam, Quảng Ngải, Bình Định và Phú Yên.) Cha và các anh của ông tham gia kháng chiến, Mẹ ông và các con dù ở tuổi rất nhỏ cũng phải ra sức làm đủ mọi việc để sống qua ngày.
 
Những năm ở vùng kháng chiến ấy, ngày thì cùng gia đình mưu sinh, tối ông chăm đèn đi học với một thầy giáo trong lớp bình dân giáo dục. Chỉ được vài ba tháng, người thầy chơn chất này đã thú thật chỉ vừa học xong lớp ba, rất tiếc đã hết chữ để dạy ông và nhờ ông phụ dạy những người học trò khác. Lúc ấy, còn nhỏ ham chơi và quá mệt với công việc mưu sinh hằng ngày nên  ông đã bỏ luôn cả nghề “phụ giáo”, và ông lại tiếp tục thất học trong một thời gian dài.
 
Năm 1953, khi bộ mặt thật của chánh quyền Việt minh đã lộ nguyên hình cộng sản, đồng thời những người tham gia kháng chiến thuộc thành phần tiểu tư sản bắt đầu bị thanh trừng, cũng giống như nhiều người khác, gia đình ông lại rời bỏ vùng cộng sản chạy về vùng Quốc gia. Cái may mắn là gia đình ông không mất mát một ai. Nhưng riêng ông thì thật buồn vì khi muốn đi học lại thì đã quên hết chữ. Ở tuổi 16, ông xin vào lớp 4 trường tiểu học Đà-nẵng. Điều không may, chỉ có 8 học sinh dự thi để chọn 6 em. Một trong hai người không được chọn là ông! 
 
Với thu nhập rất kém lúc ban đầu, gia đình không đủ khả năng gởi ông đến trường tư thục. Tưởng đành cam phận dốt nát, nhưng một cơ may đã giúp ông tìm được một chỗ để học vừa túi tiền của gia đình do một người trên hai mươi tuổi vừa thi rớt Trung Học Đệ Nhất Cấp phụ trách. Ông giáo này xin được một chái nhỏ của chùa Bát Nhã, và dạy hai lớp 4 và 5 chung với nhau. Lớp có khoảng 20 học sinh, và năm bảy người cùng tuổi với ông, số còn lại chỉ hơn phân nửa tuổi của ông thôi. Một trong những người bạn cùng ngồi với ông trong ngôi chùa ấy là người mà Thầy Cô  đã lưu lại ở San Jose trong kỳ tham dự ĐH-4 năm 2007. Ông và người bạn thân ấy  gặp nhau sau gần 50 năm!
 
Năm 1954, Thầy đổ đầu kỳ thi tuyển vào lớp đệ thất (lớp 6) trường Phan Chu Trinh ở Đà Nẳng. Nơi đây, ông tiếp tục học cho đến xong lớp 11 vào năm 1960 và đổ Tú Tài Bán Phần ban Toán.
 
Năm sau chuyển ra học trường Quốc học Huế, và tốt nghiệp Tú Tài Toàn Phần ban Toán năm 1961.
 
Từ năm 1961- 1967 học Đại Học Huế. Như các sinh viên có gia cảnh khó khăn, ông phải vừa đi học vừa  đi làm nên thời gian đã kéo dài hơn. Ông tốt nghiệp Giáo sư Đệ Nhị Cấp ban Lý Hóa.
 
Năm 1967, được bổ nhiệm về dạy NLS Bảo Lộc cho đến năm 1980. Khi đến trường những tưởng chỉ lưu lại vài năm nhưng đất lành, hay cảnh ngộ đã giữ chân ông lại đến năm 1980 dù sau này trường đã đổi tên, thay bằng những ông chủ mới kém tử tế.
 
Có lẽ ông là một người nặng tình với trường lâu thứ nhì sau Thầy Lê Quang Minh.
 
Năm 1970 được tín nhiệm giao cho trọng trách với chức Giám Học.  Đầu năm 1975, từ nhiệm chức vụ  chỉ giảng dạy để  chăm sóc công việc riêng tư.
 
Năm 1968, một khúc quanh lớn, ông kết hôn với nhà giáo là cô Đặng Thị Ái Liên, do duyên tình đã gieo khi cả hai còn ở Huế. Sau khi Cô Liên tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Sài Gòn ban Vạn Vật và được bổ nhiệm về trường Trung Học Di linh vào năm 1968, sau đó được thuyên chuyển về trường TH Bảo Lộc. Cô tiếp tục công việc dạy dỗ đến 1980. Thầy Cô có tất cả 4 người con: Phan Hồng Nguyên, sanh năm 1969 tại Sàigòn. Phan Anh Vũ, sanh năm 1971 tại Bảo Lộc. Phan Trân Châu, sanh năm 1973 tại Bảo Lộc, và Phan Đặng Helena, sanh năm 1985 tại Hoa Kỳ.
 
Đầu năm 1980, biết không thể tiếp tục làm việc với các ông chủ mới, ông tìm mọi cách để về Sàigòn và gia đình sống chuổi ngày lữ thứ trên chính quê hương của mình. Không hộ khẩu, để tránh những cặp mắt cú vọ của bộ máy kiểm soát kềm kẹp của công an khu vực, ông thường xuyên phải lánh nạn, dời chỗ ở với sự giúp đỡ của những người thân tình.
 
Cuối 82, cùng với gia đình ra khơi trên một chiếc thuyền nan nhỏ do một số đồng nghiệp thân thích của trường NLS Bảo Lộc tổ chức. Cùng thực hiện ý định “nếu là chim ta bay ra biển” và chổ đến xin trôi theo phước phần, theo định mệnh.
 
Cuối năm 83 đến định cư tại Mỹ. Một đoạn đời mới nhiều cam go, lắm thử thách. Ông vừa đi làm để mưu sinh cho gia đình, vừa đi học. Nếu lúc 16 tuổi ông đủ nghị lực để vào ngôi chùa nhỏ ngồi học lớp 4 với mấy em nhỏ bằng phân nữa tuổi của mình, thì ở xứ Mỹ, một lần nữa ý chí mạnh, sự kiên nhẫn, lòng hiếu học và tư chất thông minh đã giúp ông đủ nghị lực để tiếp tục ngồi học chung với các cô cậu sinh viên ở tuổi con ông. Tất cả công khó được đền bù, cuối năm 87 ông tốt nghiệp và được nhận vào làm cho hảng Ferro với nhiệm vụ của một Kỹ sư Hóa Học, sau đó được chuyển vào làm trong phòng thí nghiệm.
 
Đầu năm 2004, ông nghỉ hưu với ngạch trật cuối cùng là Scientist bậc 4.
 
oOo
 
Như một số đông nhà giáo, Thầy Cô rời xứ và không còn làm công việc mà đã nhiều năm họ đã chọn như một nghiệp dĩ, một sứ mệnh. Nơi đất khách, cho dù rất bận bịu lúc đi học lại hay khi đi làm, Thầy Cô đã thu nhỏ lớp học của mình lại, và những đứa học trò là những đứa con. Những cô cậu học trò đã không phụ công khó nhọc của người thầy vừa là cha mẹ nên tất cả đã đỗ đạt. Phan Hồng Nguyên là một bác sĩ chuyên khoa về tim. Phan Anh Vũ và Phan Trân Châu là Bác sĩ Nha Khoa. Phan Đặng Helena đang học năm cuối M. A. Accounting.
 
Nếu những ngày ở quê nhà, các nhà giáo với sứ mệnh đào tạo nhân tài, công dân hữu ích cho đất nước VN, thì nơi đây Thầy Cô đã tạo được bốn nhân tài hữu ích cho quê hương thứ hai của mình.
 
Hiện tại Thầy Cô sống ở Gurnee thuộc IL. USA, đã nghĩ hưu từ công việc mưu sinh nhưng lớp học của họ có phần đông hơn, với 6 cháu nội ngoại. Sứ mệnh nhà giáo vẫn bám chặt  Thầy Cô - Dạy dỗ con xong, lại tiếp tục dạy cháu.
 
Bên cạnh đó, tâm tình chốn cũ vẫn đậm đà, khi các học trò NLSBL liên lạc được với  Thầy  Cô, thì  cả hai  không ngại khoảng cách xa xôi, bận bịu đời sống đã đến với họ trong tâm tình thật ân cần của người Thầy luôn thương quí học trò. Dù ở miền Đông Bắc nhưng hầu như Thầy Cô đi dự tất cả các kỳ Đại Hội của Hội được tổ chức miền Tây Nam  Hoa Kỳ. Ông đã tích cực tham dự, góp phần không nhỏ trong việc thành hình, và kiện toàn sinh hoạt của Hội Cựu HS NLS Bảo Lộc với sự đóng góp tài chánh, công sức và những lời hướng dẫn, chỉ đạo hữu ích cho sinh hoạt của Hội, Đặc San, Trang Nhà.
 
Ngoài ra, Thầy nhiều lần đứng ra kêu gọi công khai hay thầm lặng cho việc tương trợ những anh chị khó khăn ở quê nhà. Ông cũng đã dành khá nhiều thì giờ viết những dòng tâm tình thương trò, mến trường của mình qua những bài viết của ông trên Trang Nhà và Đặc San của Hội. Sự đóng góp tích cực của Thầy luôn được chúng em ghi nhớ và cảm tạ.
 
Vương Thế Đức
Trích Đặc San 2008
 
Ghi Chú: Bài viết nầy nằm trong loạt 6 bài viết về Thầy Cô - "Những Người Lái Đò Tận Tụy", đã đăng trên Đặc San 2008. "Lời mở đầu" và "Dòng cuối trang" nối kết  sáu bài viết đã được đăng cùng với những bài trước đây. Những bài còn lại sẽ được đăng vào những ngày tới.