Thầy Nguyễn Văn Khuy – Một gương sáng 

altKhi Thầy Nguyễn Văn Khuy về trường NLS Bảo Lộc với chức vụ Tổng Giám Canh thì lớp của chúng tôi đang học năm chót, 67-68. Chúng tôi được học với Thầy  một năm. Học môn gì thì mong Trời nhớ hộ tôi, 41 năm rồi chứ ít gì!

Vốn tính lãng đãng ngay thời trẻ, càng về khuya càng nặng hơn, quên rất nhiều điều nhưng tôi nhớ khá rõ về chuyến du sát do Thầy Khuy tổ chức cho lớp chúng tôi. Chuyến đi đã đưa chúng tôi từ trường đi qua nhiều nơi và trạm cuối là Nha Trang. Chúng tôi có dịp chứng kiến cảnh điêu tàn và thân phận cam chịu của người dân trong thời chiến. Không có ý định kể lể chi tiết, tôi chỉ xin nhắc nhớ chút kỷ niệm của chuyến đi và ghi lại đôi điều về người Thầy của chúng ta.

 

Khi về Trường Thầy rất trẻ, khuôn mặt xương, hiền hoà. Tính tình dung dị, thân thiện, dễ gần gũi nên được các bạn đồng nghiệp và học trò ai cũng thương quí. 

Giữa niên học, được tin Thầy cho đi du sát nên cả lớp vui mừng ra mặt. Chuyện học hỏi tính sau, được đi chơi xa thì ai cũng khoái cả. 

Chở mấy mươi đứa tụi tôi, phương tiện di chuyển là chiếc xe Ford của trường. Phần thùng phía sau xe, bên hông có hai băng ghế  dành cho các nường nhưng cũng chẳng đủ vào đâu. Phần lớn chúng tôi ngồi phệt xuống sàn cây ở giữa. Càng chật càng vui, đường xấu và đôi khi thắng gắp thì lại càng vui hơn.

Không rõ duyên cớ nào, Thầy lại bỏ  trống chỗ ngồi phía trước có băng nệm êm ái để ra phía sau xe, đã chật ních, ngồi với tụi tôi. Có lẽ ngồi với người tài xế hay hút thuốc lào nên sợ say hay vì buồn? Đôi ba lần được gặp, quên hỏi Thầy về việc nầy. Bận sau gặp, xin hỏi cho ra cớ trăng sao?

Chuyến đi đưa chúng tôi qua nhiều thôn làng và nhiều thành phố lạ. Có nơi thật trù phú nhưng cũng lắm nơi thật xác xơ, đầy dấu tích tàn phá của bom đạn, của chết chóc, của tang thương do cuộc chiến đang thời khốc liệt gây ra. Đoạn đường từ Bảo Lộc đến Liên Khương, đó đây lác đác vài mái tranh dựng tạm của những người dân cố bám lấy đất để sống. Lưa thưa vài mãnh đất có dấu tích của những bàn tay lam lũ chăm sóc, cấy cày, còn phần lớn thì ruộng vườn hoang phế. Hai bên đường đầy cỏ tranh cao lêu nghêu và mịt mù san dã.

Tuy có xót xa, buồn thương khi chứng kiến cảnh hoang sơ, điêu tàn của cảnh vật trước mặt nhưng vốn trẻ, ăn chưa no, lo chưa tới, dễ vui nên chúng tôi tìm đủ mọi cách để đùa vui. Trong đám tụi tôi, không biết ai mở màn trước, chỉ vào đám tranh với lời tấm tắc, hít hà khen: “Lúa, lúa tốt quá!” . Và mấy cái miệng của đám  tụi tôi hoà theo trầm trồ khen lúa tốt. Cốt để Thầy nghe.

Ông Thầy thật hiền của tụi tôi được dịp giải thích đó là cỏ tranh, tên khoa học là gì, mọc hoang trên đất nào và chúng phá hoại đất ra sao… Mấy cô cậu học trò chăm ,ngoan như Trần Thị Ngọc, Dương Thành Đạt thì ghi nhớ bằng cách lẩm bẩm hay ghi chép. Một trong đám quỷ tụi châm thêm: “Thầy nói sao chứ, theo tụi em đó là lúa. Lúa tốt quá!”.  Mấy tên khác, có tôi, hùa theo tên ôn dịch nào đó, tiếp tục suýt soa khen lúa tốt.

Ông không giận, từ tốn tiếp tục giải thích, cũng như xác quyết không phải là lúa mà là cỏ tranh...

Câu chuyện lúa và cỏ tranh đó được lập đi, lập lại nhiều lần,  đã đưa chúng tôi qua những chặng đường dài được nhiều đứa trong lớp tôi còn nhớ, dù đã hơn 40 năm.

oOo

Theo mệnh nước nổi trôi, Ông và học trò của ông trôi dạt nơi xứ lạ nhưng ai cũng nặng tình chốn cũ.  Khi tìm được nhau, nếu có cơ hội gom bi, thì ông không bỏ sót dịp nào cả.  Ông đến với học trò ngay những ngày đầu khi Hội chưa thành hìnhNếu đến thành phố nào, có dân NLSBL, ông gọi và nhờ người học trò thổ địa nơi đó gom hết lại để ông gặp. Khi có Hội, Thầy Cô Khuy không vắng một kỳ Đại Hội nào.  Ông đã đóng góp phần không nhỏ trong  việc thành lập Hội và là Giáo Sư Cố  Vấn cho Hội  ngay những ngày đầu và cho đến nay. 

Ở góc trời của miền băng gía nầy, những lần đại diện cho công ty tham dự hội thảo, ông cũng báo cho tôi hay với cùng lời nhắn:  Gom lại.  Những lần xuôi chuyến đến  nơi đây, Thầy Cô đã bỏ Hotel, nơi nghỉ khang trang do công ty đài thọ và về ở nhà chúng tôi.  Những buổi gặp mặt của những người có  dính dáng đến NLS được tổ chức.  Những câu chuyện xưa được nhắc lại, rộn ràng niềm vui. Dòng sống mấy mươi năm xưa được nhắc nhớ, được kể lể.

Nhân những dịp ấy, chúng tôi được gần với Thầy Cô hơn, được biết một số điều về Thầy. Xin lược ghi như sau:

Năm 1954, Thầy Nguyễn Văn Khuy cùng gia đình rời đất Bắc vào Nam tìm tự do lúc 11 tuổi. Năm 1961, sau khi xong bậc trung học ở trường Trung Học Chu Văn An, Ông tiếp tục theo học trường Đại Học Khoa Học Sài Gòn. Năm 1962 là một trong 25 thí sinh được trúng tuyển vào học ban Canh Nông khoá 4 của trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn.

Ông tốt nghiệp kỹ sư năm 1965 và được Bộ Canh Nông tuyển và phục vụ trong chương trình phát triển Nông Xã Cải Thiện Hiệp Hoà (cù lao Phố, Biên Hoà), trực thuộc Nha Khuyến Nông.

Năm 1966 được thuyên chuyển về làm trưởng phòng Kinh Tế Nông Nghiệp của sở Thông Kê và Kinh Tế Nông Nghiệp, trụ sở ở đường Mạc Đĩnh Chi, gần Nha Học Vụ NLS.

Năm 1967 thuyên chuyển về Nha Học Vụ NLS, được bổ nhiệm làm Tổng Giám Canh trường NLS Bảo Lộc, thay thế Thầy Phạm Phi Hoành.

Năm 1968 động viên nhập ngủ Trường Bộ Binh Thủ Đức, khoá 3/1968.  Khi mãn khoá được chuyển về phục vụ tại chi khu Chơn Thành, tỉnh Bình Long.

Đến năm 1969 được biệt phái trở về trường NLS Bảo Lộc với chức vụ Tổng Giám Canh. Năm 1971 được bổ nhiệm làm Hiệu Trưỏng trường NLS Bảo Lộc thay thế Thầy Nguyễn Phúc Chân.

Năm 1974 thuyên chuyển về Sàigòn làm chuyên viên phụ trách giáo dục kỹ thuật NLS tại Bộ  Giáo Dục, trụ sở ở đường Lê Thánh Tôn. Đồng thời phụ trách dạy môn Di Truyền Cải Thiện Thực Vật cho Trường Cao Đẳng Sư Phạm NLS. 
 
Năm 1975, một lần nữa đại gia đình của Thầy rời Việt Nam đi tìm tự do và định cư tại Hoa Kỳ, tiểu bang North Carolina. Ông tiếp tục học và tốt nghiệp kỹ sư ngành Hoá Học.

Năm 1978, Thầy được Hoechst Celanese Corporation tuyển, phục vụ tại Dryfeuss Research Center, một trung tâm khảo cứu và phát minh các tơ sợi nhân tạo (synthetic fibers) như Polyester, Polybenzimidazol (vải cho phi hành gia, lính cứu hỏa, binh sĩ) và các màng nhân tạo (synthetic microporous membranes) dùng để lọc nuớc và tinh lọc các dược phẩm (vitamines và antibiotics purification.)

Trong 15 năm qua, Thầy chuyển qua làm cho nhóm khảo cứu và phát minh các màng ngăn cách âm cực và dương cực cho các bình trữ điện (battery separators) dùng cho cell phone, computer và hybrid car v. v... 

Hơn 30 năm làm trong ngành khảo cứu và phát minh, Thầy có khoảng hơn 20 bằng sáng chế bảo chứng tại Hoa Kỳ cũng như tại các quốc gia Nhật, Đại Hàn, Đài Loan, Singapore, Âu Châu, Canada, Trung Hoa. Nếu muốn tìm hiểu thêm về những công trình khảo cứu và phát minh của Thầy, các bạn có thể vào Google Search, gõ "khuy van nguyen" hay "khuy nguyen".
 
Một trong những đề tài khảo cứu của Thầy Khuy là Mass Transfer with Contained Liquid Membrane đã được in trong  Membrane Handbook, tác giả là giáo sư Kamalesh K. Sirkar tại Steven Institute Of Technology, NY,  để dùng làm sách giáo khoa cho các trường đại học.  

Hiện nay Thầy là hội viên của American Chemical Society, American Chemical Engineers và Society Plastics Engineers.

Ông làm việc trong nhóm khảo cứu với các đồng nghiệp Hoa Kỳ, Nhật, Ấn Độ, Trung Hoa, và rất được họ ngưỡng mộ và kính trọng. Thầy luôn hãnh diện là người Việt Nam. 

Đầu tháng 7 năm 2007, ông thật sự nghỉ hưu.

Trong email gởi Trang Nhà, Thầy Khuy đã viết: "Tôi muốn nhắn nhủ đến các bạn là chúng ta nên luôn luôn trau dồi kiến thức, vì kiến thức là một sức mạnh (power). Hoa Kỳ có hai sức mạnh là kiến thức và tiền bạc, nên đã trở thành một siêu cường quốc thế giới.”

Khi viết những dòng nầy được tin Thầy Cô vừa dọn về vùng trời êm ả, đầy nắng ấm Houston thuộc Tiểu Bang Texas, một nơi Thầy Cô chọn trú ngụ và an hưởng những ngày nghĩ hưu. Mong đất lành Houston tiếp tục ân đãi người con tuấn kiệt của Việt Nam vì thời thế phải sống xa rời quê hương. Ông đã trang trải sứ mệnh được cuộc đời giao phó với mấy mươi năm phục vụ cống hiến tài năng, trí lực, khi còn ở quê nhà và sau nầy trên quê hương thứ hai của ông.

Kính mong Thầy Cô luôn an lành, hạnh phúc và khoẻ mạnh. Với thời gian rảnh rỗi hơn, mong Thầy sẽ tiếp tục viết những công trình khảo cứu  hữu ích cho đời;  chúng ta có thể  tìm đọc qua Trang Nhà của Hội và qua những Đặc San Khoa Học của Mỹ.

 
Vương Thế Đức
Trích Đặc San 2008