Cô Võ Thị Vân

 

 Nếu Đại Hội 3 được vinh dự đón tiếp Thầy Nguyễn Văn Hạnh từ VN đến, Đại Hội 4 được Cô Dương Thị Tuấn Ngọc chẳng ngại xa xôi đến từ Úc tham dự, thì tin Cô Võ Thị Vân sẽ đến dự Đại Hội 5 đã làm cho anh chị em NLS Bảo Lộc thật vui mừng, thật phấn khởi và ai cũng luôn ngóng chờ. Quả vậy, thâm tình xưa, nghĩa cũ nặng đã mang cô đã đến với chúng ta, với những người học trò của cô, những người đã rời bến cũ những mấy mươi năm nhưng vẫn tưởng hoài về những người lái đò tận tụy năm xưa. Giây phút tao ngộ khởi đi từ sự chờ trông, muốn gặp, bao giờ cũng đẹp, cũng hạnh phúc; một số anh chị đã đạt được niềm vui ấy trong buổi gặp gỡ vừa được thực hiện trong tuần qua. Rồi đây, khi đến dự Đại Hội 5, một số lớn hơn sẽ được nhận niềm vui, sự hạnh phúc mà đời đã cho ta có cơ may gặp lại người cô luôn được học trò thương quí. Phép lạ, đời người mấy lần được ban phát!

Trong tiếp xúc, dù ngắn ngủi nhưng lại là lần trao đổi thật nhiều với so với những ngày được còn học với cô liên tiếp mấy năm. Xin ghi lại những gì được biết về cô.

Cô sinh năm 1940 tại Kampuchea, trong một gia đình có 2 anh trai và 1 em gái. Đến 5 tuổi cô cùng gia đình dọn về quê nội tại Long An. Năm 1947 khi phong trào Việt Minh gia tăng chiến tranh, cô được gia đình mang lên Sài Gòn. Những năm tiểu học cô học tại trường tiểu học Gia Định. Sau khi trúng tuyển kỳ thi đệ Thất, cô vào học trường nữ trung học Gia Long. Cuộc đời thanh nữ của cô như bao gia đình khác, trong một nếp sống truyền thống và nghiêm trang, mọi sự chọn lưa và quyết định tùy thuộc vào gia đình và các anh. Năm 1960, cô nữ sinh đô thị vừa tốt nghiệp văn bằng Tú Tài 2, không biết gì hơn ngoài sự chọn lựa của cha mẹ và hai người anh, cô thi vào hai trường đại học Quốc Gia Hành Chánh và Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao. Thời gian đó cô không có khái niệm gì trong sự chọn lựa hay ý thích. Duyên may đã dành cho cô một chốn, đó là trường Cao Đẳng Nông Nghiệp Blao.

Cô nhập học khoá 3 CĐNN, ngành Súc Khoa. Cô tâm sự, ngày cô dọn lên Blao nhập học, đây là một khúc quanh kỷ niệm rất lớn đối với cô. Một thay đổi toàn diện trong cái nhìn, nhận định, suy nghĩ, tình cảm, và cả cuộc sống của cô khi rời xa gia đình, như một con chim rời tổ ấm đã quen hơi để đến một chốn lạ dần quen. Nơi đây, cô đã gặp những người bạn mới, chung ăn, chung ở và cùng học để rồi sau đó cùng trở về ngôi trường nơi họ đã chọn để mong đem được một ít gì cái hay cái mới qua kiến thức thu lượm để truyền lại cho thế hệ đi sau và kế tiếp.

Với cô, những kỷ niệm của thời cắp sách đến trường, ngôi trường đứng nhất nhì Đông Nam Á thời đó, với cái đẹp và hùng vĩ của thiên nhiên bao quanh, bao nhiêu kỷ niệm vẫn luôn trở về bên cô mỗi khi làm gì, đi đâu bất chợt cảm nhận một cái quen thuộc của ngày nào năm xưa. Đậm nhớ nhất của tuổi sinh viên khi cô lên Blao, mà cô thật vui khi kể lại, đó là "tuần lễ thanh trừng" và huấn nhục của nhà trường và khoá đàn anh dành cho các học viên tò te mới lên. Một tuần lễ kỷ luật sắt được áp dụng không phân biệt nam nữ và do khoá 2 hướng dẫn. Cô kể, những ngày đầu nhập các học viên mới được các anh chị lớp trên đón tiếp rất niềm nở, giúp đỡ tận tình. Sau khi an cư, tuần lễ thanh trừng được chính thức ban hành. Có thể nói tuần lễ thanh trừng thật là gay go và khổ sở, truyền thống muốn tạo cho người sinh viên một cuộc sống hoàn toàn khác hẳn những gì trong sinh hoạt gia đình vốn có, một cuộc sống mới cách ly khỏi hẳn gia đình. Ban đêm, cả lớp có thể được đánh thức dậy, tập họp và cùng nhau chạy khắp sân trường trong tiết trời giá buốt của Blao, hay các sinh viên nam phải đeo cà vạt ngược phía sau thay vì phía trước mỗi khi đi ra ngoài; có những buổi sáng tinh sương, các huynh trưởng chỉ định mỗi học viên với một cây bút và cuốn sổ tay, đi tìm một loại cây rừng với tên khoa học đầy đủ trong khu vườn thủy lâm hay khuôn viên trường. Đây là một việc làm trần ai cuốc gẫy, có thể tìm cả ngày mà vẫn không ra, mắt mờ, vã mồ hôi, không biết đâu mà lần, chạy hết cây này đến cây khác, chỗ nào cũng thấy cây Chò Xót!  Vô vọng! Rồi có thể đi đâu trong khuôn viên trường phải đi hàng một, tư thế nghiêm chỉnh, không được nói năng cười đùa, hoặc phòng ốc có thể được ban thanh trừng khám xét bất cứ lúc nào, luôn phải gọn gàng sạch sẽ. Đặc biệt nhất là ngày cuối của tuần lễ thanh trừng, các học viên mới phải vượt qua "đầm vắt" trong khu rừng giáp trường, đây là một cái đầm trũng lầy, rất nhiều vắt, ai nấy nghe chuyện là mặt mày xám xịt như bị vắt hút, nhưng vẫn phải chuẩn bị bao bọc, quần áo, giầy vớ, cùng nhau vuợt qua đầm, nhưng gì thì rằng, ai nấy ra về đều mang trong người vài con vắt to đùng, vừa sợ hãi, vừa nguyền rủa. Đêm hôm đó, thầy Hiệu Trưởng Vũ Ngọc Tân trong buổi liên hoan tuyên bố tuần lễ thanh trừng chấm dứt và bắt đầu vào chương trình học. Cái vui của cô chưa được trọn vẹn, chỉ sau vài tháng một quyết định trên Bộ, di chuyển trường Quốc Gia NLM về Saịgòn. Cô trở về Saigon trong cái hụt hẫng, trở về tổ ấm mà mình vẫn mong được đi xa, để lại đằng sau một Blao trong trí nhớ và hoài mong.

Năm 1964, cô tốt nghiệp Kỹ Sư Súc Khoa. Nhiệm sở đầu tiên của cô là Viện Vi Trùng Quốc Gia tại Sài gòn. Nhưng có lẽ cánh chim vẫn mơ ước được bay trở về chốn cũ, một nơi đầy ắp kỷ niệm và nhiều điều mới lạ. Sàigòn, dù ngay bên gia đình, vẫn không giữ chân cô lại mà thay vào đó âm hưởng Blao ngày nào còn phảng phất, chỉ vài tháng sau cô quyết định thay đổi và xin thuyên chuyển về trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc.

Ngày cô đi nhận nhiệm sở trong niềm hân hoan của ngày trở về, giấc mơ của cô đã thành tựu, cô tìm lại được chốn cũ, đầy thơ mộng... Cô đã cùng cô Dương Tuấn Ngọc, Võ Thị Thúy Lan, về trường giảng dậy một số bộ môn chuyên môn, phổ thông và hướng dẫn nông trại thực hành.

Cô về trường và cư ngụ tại căn nhà cây cạnh căn "White House" của thầy HiệuTrưởng. Có thể nói căn nhà cây khá đặc biệt so với tất cả những căn biệt thự của các thầy cô. Cô rất yêu thích nó vì từ cửa sổ phòng ngủ, cô có thể nhìn bao quát cả một khung trời NLS, nơi đó hàng ngày biết bao nhiêu học trò đi qua, đi lại, ra phố, đi làm nông trại hay lên lớp.

Cuộc sống của cô qua những ngày tháng trên đó, có lẽ có nhiều học trò đã nhìn cô qua hình ảnh một cô giáo gương mẫu đầy nguyên tắc, sẵn sàng nẹt đòn những cô cậu học trò làm biếng ham chơi, cứng đầu phá phách.

Tôi vẫn không quên được hình ảnh của cô giáo trẻ nghiêm nghị, dù rằng học ban Thủy Lâm, được học cô môn Vạn Vật, tôi vẫn còn nhớ những cảm giác ớn ớn trong giờ lớp của cô, hay đôi phần rụt rè mỗi khi phải đi qua căn nhà gỗ, ráng sải những bước thật nhanh và những nét hào hùng khi đứng tụ quanh cột cờ cũng biến đi đằng nào.

 Giờ đây sau hơn 30 năm, được ngồi tâm sự với cô, trò chuyện cùng cô về trường xưa bạn cũ, bí mật của 30 năm về trước giờ này cô mới giải mật. Cô tâm sự, khi cô về trường, là một cô giáo trẻ độc thân, cô vẫn có cái rụt rè, mắc cỡ, nhưng vì vai trò là cô giáo cô đã cố gắng tạo cho mình một nét cứng cỏi và "mặt ngầu", nhưng cô cảm thấy "khớp" khi biết có nhiều học trò tuổi cũng bằng hay suýt soát ngang tuổi cô, thêm vào đó có nhiều học trò có cuộc sống khá sung túc và đầy đủ hơn một cô giáo trẻ nghèo mới ra trường.

Với đồng lương thắt bụng 1,500 một tháng, cô phải gửi về gia đình 750 đồng, tiềm cơm 700 đồng, cô chỉ còn 50 đồng tiêu vặt, cái khó của cô cũng giống như của học trò. Mọi thứ cô đều phải giới hạn, nếu không cô sẽ lâm vào cảnh "chới với". Nhưng đặc biệt nhất, và cũng là nguyên do chính đã tạo ra một khoảng cách thiếu thân tình gắn bó giữa cô và học trò, đó là một mối tình chớm nở của cô vào thời gian đó. Cô tâm sự, bây giờ nghĩ lại, cô vẫn tiếc cho những gì đã tạo nên một khoảng cách giữa cô và học trò, mà lúc đó cô chẳng còn cách nào hơn. Ngay cả các học trò ngụ ngay trong nhà cô như chị Lê thị Bình, Hoàn Mỹ, Nguyễn thị Hạnh, Nguyễn Văn Tư, cũng ớn gà cô, không dám tâm sự gì với cô, thấy cô cửa Bắc thì né qua cửa Nam, cô trên lầu thì học trò trốn dưới nhà!

Năm 1968, cô lập gia đình với thầy Phạm Như Quảng, Khoá 6 Trung Đẳng, và có 3 người con, hai trái , một gái, và hiện có hai cháu nội 5 và 3 tuổi, tất cả còn ở quê nhà.

Năm 1969, cô rời trường và chuyển về dậy tại trường Nông Lâm Súc Bình Dương, chợ Búng.

Sau biến cố năm 1975, cô chuyển về trường Cao Đẳng Sư Phạm Bình Dương.

Đến năm 1978, cô thôi đi dậy học và về làm chuyên môn cho một xí nghiệp Chăn Nuôi Quận 6, và đến năm 1988, cô quyết định nghỉ hưu non và chuyển qua lãnh vực buôn bán.

Đến năm 2000, một biến cố lớn trong gia đình, sự ra đi của Thầy trong một tai nạn nghề nghiệp, cô rất buồn cho sự mất mát lớn nầy. Sau đó với lời khuyên của các con, cô cố gắng đi đây đó để khuây khoả. Cô đã gia nhập hội Du Khảo trong nước. Cô tham gia vào các chuyến du khảo đi từ đỉnh đầu Bắc tuyến xuôi về mũi Cà Mau với phương tiện xe gắn máy. Cô kể, có những chuyến đi dăm bữa đến những chuyến kéo dài dăm tuần. Cô đã tìm được niềm vui, những khám phá cùng khảo cứu thiên nhiên trên mọi phần đất của quê hương. Cô tâm sự, các em có thấy cô đen đủi lắm không? Cái nắng và mưa miền nhiệt đới đã thiêu đốt và xạm đi nước da của cô qua biết bao cuộc hành trình.  Đến năm 2007, với tuổi đời chồng chất, sức khỏe có đôi phần kém đi, cô quyết định không đi nữa và ở nhà chơi với các cháu.

Được hỏi cảm ý cho một chuyến đi Hoa Kỳ kỳ này và đại diện cho các thầy cô ở quê nhà qua tham dự Đại Hội kỳ 5, cô cho biết cô đã đạt được giấc mơ được đến thăm một quốc gia hàng đầu thế giới, được nhìn thấy thật cuộc sống ở đây mà đã lâu chỉ nằm trong trí tưởng, cô nhìn thấy sự sinh hoạt của một cộng đồng non trẻ và thành công ở mọi mặt. Riêng với sinh hoạt của anh chi NLS hải ngoại, thật là một bất ngờ và thật cảm động khi được các học trò thân thương đón tiếp cô tại quận Cam. Một cái vui và đầy hạnh phúc cô đã tìm lai được, một âm hưởng của Blao ngày nào lại trở về. Cô tâm sự tiếp, cô chưa một lần đứng hát, hay chưa hề thuộc một bài hát nào, hôm đó cô đã thật vui với mọi ngươì qua nhạc phẩm "Nắng Chiều", cô hát tặng mọi người như một chút gì cùng nhớ lại ngày nào năm xưa cô được nghe các học trò của cô hát trên Đại Thính Đường.

Cuộc nói chuyện qua điện thoại đầy thú vị trong tình Cô-Trò kéo dài gần nửa đêm, cô hẹn sẽ gặp tất cả trong ngày ĐH5, và cùng chúc chúng ta sẽ có một ngày Đại Hội đầy ý nghĩa và thành công.

Viết xong, đêm 14 tháng 8 năm 2008

Nguyễn Triệu Lương, TL67-69

Trích trong ĐS NLS-BL 2008