Khi tiếp xúc với anh Đặng Chung Huỳnh để xin một tấm ảnh đăng kèm theo bài viết của anh, những tưởng câu chuyện của chúng tôi chỉ dăm phút. Chúng tôi chưa một lần gặp mặt hay liên lạc trước đây. Tôi rời trường được vài năm, anh  Huỳnh mới nhập học. Tuy nhiên, keo sơn, gắn bó từ ngôi trường và phong thái của người có giọng nói, ngôn từ và cách diễn đạt trời cho, dễ gần gũi, dễ thân thiện nên chúng tôi có cuộc trao đổi khá lâu và thật thú vị. 
      Chúng tôi nhắc nhớ về bè bạn NLSBL, về trường, về dòng sống "những ngày mắc cạn" sau 75, về chuyến ra khơi và những năm tháng lữ thứ ở xứ người. Tâm tình về chốn cũ và quảng đời thật đẹp trên trường được cả hai nhắc nhớ thật nhiều. Vả chăng, từ quá khứ chung của quảng đời cũ đã làm cho chúng tôi cảm thấy thân thiết hơn, và là khởi nguyên cho sự kiếm tìm, quây quần, hợp mặt của anh em chúng ta.  
      Hôm sau, trong một buổi họp mặt bỏ túi của anh em NLSBL tại Cali đón mừng anh và gia đình tại nhà anh Đạo. Biết tôi ở cách bốn, năm ngàn dặm nhưng các anh cũng cắt cớ, thương tình gọi tôi rủ rê qua tham dự liền. Lại được một dịp cà với khịa, chung vui hàm thụ qua điện thoại viễn liên.
      Ngồi gõ những dòng nầy sau khi vừa nghe xong những lời tâm tình của anh Huỳnh được anh Nguyễn Triệu Lương ghi lại. Thêm một lần nữa, xác tín hơn để khẳng định: quả  thân tình và keo sơn của NLSBL thật tuyệt diệu. (Trang Nhà
 
oOo 
 
 
Tôi là một người rất ghét thơ văn, chưa bao giờ cầm bút viết được một câu cho ra hồn, môn tập làm văn luôn luôn đứng chót, chính tả thì lỗi điểm không hết, nhưng khi vào trang nhà, nhớ quá những kỷ niệm xưa, nên cũng ráng nặn đầu óc viết một bài đầu tiên trong đời để đóng góp cho trang nhà . Mong quí bạn và các anh chị tha lỗi viết sai chính tả cuả tôi. (Đặng Chung Huỳnh)
 
Đầu hè 1970 tôi rời Bình-Định với 4 cuốn sách toán lý hoá và vạn vật để vào Bảo Lộc nộp đơn và ôn thi vào lớp 10 Nông Lâm Súc, tôi chọn ban Công Thôn, lúc dó thật sự tôi chưa biết Bảo Lộc là đâu chỉ biết là gần Đàlạt.
 
Lần đầu xa nhà đến một nơi mà mình chưa biết, lòng tôi thật rộn ràng, vừa sợ vừa vui. Ngồi trên xe đò từ Qui-nhơn, xe chạy qua đèo Cù-Mông rồi đèo Cả, một bên là biển một bên là đồi núi, cảnh vật thật thiên nhiên và hùng vĩ, xe đến Nha-Trang thì cũng xế trưa nên không còn xe đi Đalạt nữa, tôi đành phải ngủ đêm lại và sáng hôm sau lấy xe Minh-Trung lên Dalạt. Đường đến Dalạt cảnh vật thật đẹp, xe phải lên đèo Sông-Pha hay còn gọi là đèo Ngoạn-Mục, có lẽ đúng thế, phong cảnh ở đây đẹp như trong tranh, xe lên đèo vào khoảng 8 giờ sáng, ánh nắng bắt đầu chiếu qua những ngọn thông thành những vết dài, làm long lanh những hạt sương còn đọng trên cây cỏ, không khí thật trong lành, mùi hương rừng núi như quyện lấy khắp nơi, rồi xe đến Đơn-Dương, Trại Mát và cuồi cùng cũng đến Dalạt.
 
Dalạt thật thơ mộng, thật dễ thương, trước khi vào bến, xe chạy dọc theo bờ hồ một đoạn, hai bên đường toàn là thông, tiếng thông reo vi vu, dưới bờ hồ với những đám cỏ xanh rì phủ trắng sương mai và lấp lánh dưới ánh nắng như những hạt ngọc châu, đã hơn 9 giò sáng mà sương mù vẫn còn che kín mặt hồ. Khí hậu thật ôn hòa và dễ chịu chứ không nóng như thiêu như đốt nơi quê tôi.
 
Xe vào bến và tôi lại phải đổi xe về Bảolộc, xe chạy qua Tùng Nghiã rồi đến Di-Linh, với những đồi trà xinh đẹp trải dài đến cuối chân trời, đồi núi nhấp nhô chập chùng, rồi xe cũng đến Bảolộc, vừa đến Bảo lộc tôi đã nghe được mùi hương cuả trà, mùi hương mà bao nhiêu cô cậu học sinh xa nhà đến đây sau 3 hay 5 năm đèn sách, phải mang theo khi rời đất Bảo.
 
Đến Bảo lộc tôi lại phải lấy xe lam về nhà trọ, nhà trọ mà tôi đến nằm đối diện ngay trước cổng trường, có lẽ các bạn biết nhà sản xuất trà Ông Thọ chứ, đó là nơi tôi tá túc, và cũng là nhà của anh Nguyễn văn Bé lúc đó làm quản đốc trung tâm thực nghiệm.
 
Đứng trước nhà trọ nhìn vào cổng trường cao ngất, và xa xa là những dãy lớp học, với những con đường tráng nhựa thật khang trang và tôi ước mơ mình sẽ thi đậu vào lớp 10 để được ở lại đây và theo học dưới mái trường thơ mộng nầy.
 
Những ngày kế tiếp, tò mò tôi tản bộ vào trường, đi ngang qua những dãy nhà học và văn phòng, qua những hàng cây xanh mướt rập đầy bóng mát rồi đến cột cờ, nhìn sang Hoàng Hoa lộ, ơi con đường thật xinh, thật thơ mộng có lẽ còn hơn thế nưã nếu bên cạnh tôi có một bóng hồng cùng sánh bước. Những cụm hoa vàng chắp nối hai bên lộ chạy dài cho tới cuối đường quyện vào nhau như lối vào thiên thai, thật vậy nếu ai chưa vào trường thì không thể hình dung được cái đẹp, cái tinh tú cuả ngôi trường. Tôi đi lần xuống sân banh và câu lạc bộ rồi nhìn qua phiá rừng sau trường, núi rừng trùng điệp. Tôi đi lại về phiá dãy E rồi đi ngược về thư viện và đaị thính đường, ôi ngôi trường sao mà đồ sộ quá so với ngôi trường tôi đã học ở quê tôi, chỉ vọn vẹn một dãy nhà vói 10 phòng học, và trang bị rất thô sơ. Mới đầu tôi cứ tưởng là đã vào hè thì chẳng còn học viên ở trường nữa, nhưng tôi vẫn thấy nhiều anh chị qua lại các dãy nhà học và cả ban đêm nưã, nhiều khi có những ánh đèn dầu hiu hắt trong đêm tại những phòng học, sau nầy tôi mới biết là một số anh chị học từ lớp 9 cũng phải thi lên, và một số học sinh các nơi khác cũng đền để luyện thi như tôi, nhưng họ sống trong lưu xá cùng với bạn bè, riêng tôi chỉ một thân một mình nơi xứ lạ.
 
Những ngày đầu đến đây thật buồn, không bạn bè, không ngươi thân, cảnh vật êm đềm, làm cho kẻ tha hương càng nhớ về quê mẹ, trời ở đây khi mưa khi nắng, nhất là những buổi tinh sương lành lạnh, miệng thở ra khói, mặc chiếc áo len tản bộ vào trường và hít không khí trong lành của trời đất , nhưng gì rồi cũng qua vì còn bận học ôn để thi đậu chứ. Cắm đầu cắm cổ học.
 
Thế là ngày thi cũng đến, tôi hồi hộp vào phòng thi, ngồi trên những chiếc ghế có ghép bàn tôi thấy ngồ ngộ làm sao, thế là đề thi được phát ra và tôi cặm cuội làm, tôi làm bài khá tốt nên hy vọng nhiều, sau gần ba tháng ở Bảo lộc những buồn vui và lo lắng cũng vừa qua thì bây giờ là lúc mà tôi phải lại rời xa Bảo lộc, trong lúc tâm hồn tôi vừa len lén một thứ tình cảm thật dễ thuơng mà tôi không định nghiã được. Bảo lộc ơi! hẹn gặp lại em trong mùa khai trường tới.
 
Kết quả kỳ thi đã có, tôi được trúng tuyển và ngày nhập học cũng gần kề, vậy là tôi phải xa quê thật sự mất rồi, thế nhưng nhờ những ngày tháng học thi đã làm tôi thấy thích và yêu Bảo Lộc. Đến Bảo lộc lần nầy tôi không đi bằng xe đò mà là máy bay (quà thi đậu cuả ba má) từ Qui nhơn vào Liên khương, khi máy bay gần đáp, nhìn từ trên không thành phố Dalạt thật liêu trai, những ngọn đồi xanh ngát chạy dài khắp mọi nơi, rồi hồ Xuân Hương, hồ Than Thở, ôi Dalạt! như một cô gái vừa tròn tuổi mộng mơ, Bảo Lộc tuy nhỏ nhưng với ngôi trương dễ thương của chúng ta thì Bảo lộc cũng không thơ mộng thua kém gì Dalạt.
 
Sau khi đáp xuống phi trường Liên Khương, tôi đi bộ ra quốc lộ 20 để đón xe đò về Bảo Lộc, trời mưa lâm râm, đường đất đỏ làm càng khó đi hơn, xe đầy nghẹt khách, khó khăn lắm mới chui được vào lòng xe, tôi chỉ mong sao cho chóng đến Bảo lộc trước khi thân xác tôi bị hành khách đè bẹp trong xe, rồi xe cũng đến Bảo Lộc, trời sắp về chiều mà cơn mưa vẫn chưa tạnh, hơn 4 giờ tôi về đến nhà trọ, người ngợm đầy bụi đường, tôi chỉ muốn tắm nhanh rồi đi nằm cho thoải mái. Mới chỉ một ngày mà sự thay đổi nhanh quá, từ cái nóng gay gắt cuả miền trung, bây giờ tôi lại hưởng cái không khí mát mẻ trong lành nơi xứ bảo.
 
Ngày nhập học cũng bắt đầu, với bộ đồng phục nâu tôi thấy mình trưởng thành thêm đôi chút. Vào lớp học hơn 50 bạn bè mới, toàn là đấng mày râu, chỉ duy nhất có một cô nàng nhưng sau đó chuyển qua MS. Tuần lễ đầu chưa học hành gì, toàn thể học viên với xà bất và dao phát đi làm sạch trường, sau 3 tháng hè cỏ tranh lên ngợp trời, chúng tôi ai nấy đều vui vẻ và làm việc thật chăm chú dưới sự hướng dẩn cuả các thầy cô và các anh chị khoá đàn anh. Lúc đầu chưa quen nên mệt mỏi nhưng dần rồi cũng quen, tuần lễ nầy còn gọi là tuần lễ “huấn nhục”. Vào lớp mới tôi làm quen được nhiều bạn bè mới, Ung siu Man, Phạm ngọc Các, Lê thanh Hần, Trương Kế Đức, Lê Kỳ Khôi v.v , toàn là dân xa nhà, nên chúng tôi thông cảm nhau rất nhanh. Lớp tôi và lớp Thủy Lâm là hai lớp toàn đấng mày râu nhìn nhau chán chết, chỉ hai lớp bạn là Canh Nông và Mục Súc thì có nhiều bông hồng. Nhưng đối với những bông hồng cùng khoá thì tôi chẳng dám đụng tới bởi vì sợ đụng lớp đàn anh và hồng này nhiều gai lắm. Nhưng thật tình mà nói thì tôi chỉ muốn nhìn xuống dãy E thôi, nơi đó có nhiều bông hồng non, chưa có gai nếu lỡ mình có đụng vào thì cũng không bi rướm máu.
 
Sau đó vài tuần tôi không nhớ rõ, Học viên toàn trường lại đi cuốc cỏ khai hoang làm nông trại ở khu đất gần Macvi về hướng trà Đỗ Hữu, chúng tôi vừa làm vừa ca hát rất nhộn nhip, rồi đến giờ nghỉ trua chúng tôi kéo nhau đi ăn cơm, trước mặt tôi là một nhóm nữ sinh đang vừa đi vừa nói chuyện trông rất vui, tôi nhìn từ sau tới, một bóng dáng mảnh mai, một mái tóc dài đen mướt chấm ngang vai, một cơn gió nhẹ thổi qua làm tóc em bềnh bồng trong gió, tôi nhanh chân vượt lên phiá trước lén nhìn em , gương mặt trái xoan, miệng cười như hoa hàm tiếu, nụ cười nầy đã thu hút cả hồn tôi, tôi biết rồi mình sẽ khổ với nụ cười nầy, lòng tôi xôn xao như có một niềm vui mới. Cô bé học lớp 8, sau tôi 2 lớp. Muốn làm quen với cô bé, nhưng tôi nhủ thầm, có lẽ hãy còn quá sớm, thôi đành chờ vậy.
 
Thời gian rồi cũng trôi qua, lớp 10, lớp 11 rồi 12, sau 2 năm cô bé ngày nào đã trở thành một thiếu nữ lớp 10 CN.
 
Yêu em từ thuở vào trường
Sau hai năm đợi, giò em trưởng thành
 
Các lớp 12 thì học ở dãy C và lớp 10 thì học ở dãy A, vì thế muốn lên văn phòng tôi phải đi qua dãy A, trong giờ nghỉ tôi luôn lên văn phòng bằng con đường nhỏ lát beton chạy dài sau các lớp để mong nhìn thấy được em qua khung cuả sổ.
 
Nhìn qua khung cửa lớp em
Anh mong có được nụ cười hồn nhiên.
 
Thế rồi thời gian cũng trôi qua, và tôi cứ theo em sau những buổi tan trường, con đường Tự Do từ đồn quân cảnh đến nhà chup hình Tiên Dung rồi quẹo lên con dốc nhỏ vào nhà em, đó là đoạn đường mà cuối tuần tôi hằng qua lại, để mong được nhìn đôi mắt to tròn đen láy cuả em trong những ngày nghỉ học.
 
Cuối tuần không được gặp em
Thứ hai em nhớ cho tôi nụ cười
 
Ngày lại qua ngày, rồi bận chuyện học hành thi cử nên tôi hơi xao lảng việc đếm bước chân em, không biết người ấy có thấy buồn khi vắng bóng tôi.
 
Năm 12 chúng tôi học nhiều hơn, Nha học vụ NLS năm ấy có tổ chức kỳ thi toàn quốc về nghành Công Thôn, tôi và hai bạn nữa được chọn làm đại diện cho trường tham dự cuộc thi nầy, để chuẩn bị cho cuộc thi, thầy Phan thanh Kiếm và chúng tôi dắt nhau lên Tùng Nghiã thực tập máy cày, chúng tôi tá túc 4, 5 ngày tại nhà Ung Siu Mằn, trong lúc rảnh rổi tôi cũng dành ít thì giờ ghé lên ĐaLạt thăm hồ Xuân Hương, ăn cái bánh mì đặc biệt cuả Dalat, thăm lại rạp Hòa Bình, Ngọc Lan. Từ bến xe lên chợ phải lên con dốc thật cao, hai bên đường là những Kiosk bán vật lưu niệm, tôi ghé vào một tiệm và đặt làm một bảng tên em, để lúc về lại Bảo Lộc cũng có một chút quà kỷ niệm, nhờ cô chủ tiệm gói lại cho thật đẹp, hy vọng em sẽ cảm động vói món quà nhỏ nầy.
 
Cả tuần lể không gặp em, lòng tôi trống vắng, trằn trọc trên căn gác nhà Ung Siu Man tôi suy nghĩ mông lung, em giờ nầy đang làm gì, có nghĩ đến tôi? rồi lại tự hỏi mình, nếu được em yêu, đến cuối năm tôi phải rời trường về Sai-Gon học, và rồi cuộc tình mình sẽ ra sao ? lòng tôi chợt se lại, đầu tôi như muốn nổ tung ra, mắt tôi cay cay khi nghĩ đến chia tay.
 
Từ Tùng Nghiã về, nhìn dáng em từ xa đi tới, tim tôi lại thấp thỏm, gặp em, trao quà , em nhận nhưng sao tôi thấy mình không được vui, trong tôi như đánh mất một cái gì yêu quí.  Mỗi ngày vẫn thấy nhau, tôi trao thư cho em, em nhận nhưng chưa bao giờ viết lại, có phải đó cũng là một câu trả lời mà tôi không chịu hiểu?
 
Trời đã cuối Thu, lá vàng bắt đầu rơi trên khắp nẻo sân trường, không khí lạnh bắt đầu đến với chúng tôi, những sáng tinh sương chúng tôi chụm nhau ở góc sân trường nơi mà ánh nắng mặt trới còn rọi xuống, đem theo một ít ấm áp và sức sống cho chúng tôi. Những lúc đứng dưới ánh nắng mặt trời, lòng tôi ấm lại, đôi mắt nhắm rì rồi nghĩ đến em, hình dung đến nét mặt hiền hòa, mái tóc dài mềm mại như những sợi tơ trời, dáng đi dịu dàng và đôi môi như mời mọc, tôi muốn hôn em, một nụ hôn thật dài để thời gian như ngừng lại, không gian nhỏ đi, để tôi và em được bên nhau mãi, tiếng kẻng vào lớp khô khan đã trổi lên ba tiếng, đánh thức tôi dậy để đưa tôi về thực tại.
 
Rồi kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt cũng gần kề, lại lo bài vở cho kỳ thi nên tạm xếp lại chuyện yêu thương, vì cả tôi và em đều phải học.  Nhiều đêm học thi, nhưng hình ảnh em cứ mãi quanh tôi, không thể học được, lại rủ Ung Siu Man ra quán cafe của thầy Sáu ngồi nghe nhạc. Thầy sáu dạy Hoá cho lớp chúng tôi, tôi rất ngán thầy vì tôi chúa dốt môn hoá học. Trong thời gian ôn thi, lúc thì học ở nhà, lúc thì lên phòng học, ai nấy đều chăm chỉ để có một kỳ thi tốt.  Rồi kỳ thi cũng qua, chúng tôi thở phào nhẹ nhỏm.
 
Trời vào Đông, từng cơn gió lạnh thổi qua báo hiệu mùa Noel sắp đến, những ngày sắp noel, tôi gặp em, em bảo sẽ ăn Noel ở Dalat, vậy là chiều 24 tôi và Ung Siu Man đón xe lên Dalat, gặp em nơi đó, lòng thật mừng chung quanh tôi bây giờ tất cả đều dễ thương, dứng dưới hàng thông với ánh đèn đường heo hắc, không đủ thấy mặt em, thuơng em vô cùng, tôi muốn nắm lấy tay em, ôm em vào lòng để nói lời yêu nhưng sao ngại quá, sự nhút nhát cuả thời mới lớn làm tôi chùng lại..
 
Tôi cứ tưởng đây là muà Noel đẹp nhất trong thời mới lớn, nhưng buồn thay tôi về lại Bảo Lộc với một nổi lòng tan tác. Những ngày sau đó tôi như người mất hồn, tim tôi như từng mảnh vụn cố xua đuổi hình bóng em ra khỏi tôi, nhưng khó quá, trời ơi tôi phải làm sao đây? Em ác với tôi quá, không lẽ tôi được sinh ra để yêu em và khổ vì em? Tết lại về, cả trường sắp nghỉ tết, chúng tôi băt đầu thu xếp hành trang để về quê ăn tết. Hy vọng tết sẽ làm tôi quên đi một phần nào những buồn đau đang mang nặng trong tôi.
 
Xuân về, cây cỏ xanh tươi, vài chú bướm vàng bay nhấp nhô, những cành hoa vàng lại rộ nở, muôn loài muôn vật hình như vui hơn, chỉ có mình tôi với một nỗi buồn thầm lặng
 
Tôi về ôm một nỗi sầu
Tình đầu đã chết trong tôi đêm nào
 
Tết xong, trở lại Bảo Lộc tôi mang theo một niềm vui mới từ quê nhà, niền vui nầy có thể đã làm cho tôi quên đi phần nào những nỗi đau mà em đã cho tôi. Tôi không còn gặp em thường nữa, hay nói khác hơn là tôi sợ gặp em, vì sợ vết thương lòng một lần nữa vỡ ra.
 
Thế rồi năm học cũng xong, tôi rời Bảo Lộc với những buồn vui lẫn lộn, xa trường thân yêu, xa người mình yêu, không biết bao giờ mới trở lại trường để gặp lại bạn bè và em. Thôi tôi xin chào Bảo Lộc nơi đã để lại trong tôi bao nhiêu kỷ niệm đầu đời.
 
Bảo lộc ơi ta xin chào em nhé
Đồi trà xanh ta nhớ mãi em thôi.
 
Thời giang âm thầm trôi!
 
Rồi tháng tư 1975, rồi chia ly, rồi mỗi người mỗi ngã.
 
Âu Châu tháng hai 2006, ngoài trời lạnh buốt, tuyết rơi nhiều, khắp mọi nơi chỉ còn phủ một màu trắng xóa, xa xa các em nhỏ đang đùa với tuyết, tôi chợt nhớ ngày mới đến đây, cũng vào mùa đông, thấy tuyết rơi thật thích và cũng đùa với tuyết như các em nhỏ bây giơ. Cái lạnh Âu Châu, cái êm đềm và yên lặng, quá yên lặng cuả Âu Châu làm cho tôi sợ, buồn, nhớ quê hương nhớ trường xưa nhớ bạn cũ, đứa còn đứa mất không biết ở phương nao. Ngồi nhìn tuyết hồi cũng chán, tôi mở PC lên, định làm một cái gì đó, tôi chợt nghĩ đến Google, liền vào Google và tìm Nông Lâm Súc Bảo Lộc, thật như một phép màu, tôi vào được Trang nhà, và thầm cảm ơn thời đại Internet, cảm ơn các bạn các anh chị đã lập ra trang nhà để chúng ta những cựu học sinh NLS có thể liên lạc được nhau. Tôi liền vào mục cập nhật danh sách, dò chầm chậm từ trên xuống, đã hơn nưả rồi mà chưa thấy một tên quen, hồi hộp dò tiếp thì thấy Bùi Nguyên Tùng, rồi Trần Xuân Thu rồi Ung Siu Mằn, Nguyễn Đức Trang và một số thầy cô và các anh chị khoá truớc. Thế là bao năm xa cách giờ như gần lại nhau, mặc dầu tôi ở trời Âu các bạn trên đất Mỹ và một số còn lại Việt Nam. Tôi liền viết cho Ung Siu Man, hai ngày sau nhận mail trả lời, và Mằn cũng chuyển tin tới các bạn khác, rồi Phạm Ngọc Các, Trương kế Đức, Nguyễn văn Nhớ (võ bị Dalạt), các bạn đều bình yên và đi từ năm 1975, sau đó chúng tôi chuyện trò nhau qua điện thoại để nghe lại những giọng nói quen thuộc ngày nào, rồi trao đổi hình ảnh cho nhau để xem dung nhan mùa hạ của nhau, tên nào cũng già chát.
 
Và tôi trở thành một độc giả trung thành cuả trang nhà, thỉnh thoảng lại vào xem danh sách mới, rồi một hôm gần đây cũng vào xem danh sách mới, mắt tôi như hoa lên tim tôi như thắt lại, mình có đọc nhầm không đây? không đọc nhầm, mà là sự thật, tên em, tôi đọc được tên em, cái tên quen thuộc mà ngày nào tôi vẫn gọi, tất cả nhũng kỷ niệm xưa buồn vui lẫn lộn một lần nữa lại tràn ngập trong tôi, muốn liên lạc với người ấy nhưng không biết người ấy còn nhớ đến tôi, cái thằng bé 34 năm về trước đã từng khổ vì em, tôi thấy mình hạnh phúc quá, ngoài trời vẫn lạnh, tuyết vẫn rơi, muà đông vẫn còn đó nhưng trong tôi hình như muà đông đã đi qua, nhường vào đó một muà xuân tươi vui an lành và hạnh phúc.
 
Tây Đức, tháng 5.2007
Đặng Chung Huỳnh
 
Trích trong ĐS NLS 2008