altTôi sinh ra trong một gia đình giáo chức, bác tôi, ba má tôi, các dì tôi đều làm nghề giáo. Ba tôi cũng không phải con của điền chủ, có thể đời ông cố, ông sơ có nhiều ruộng đất nhưng mãi đến đời ba tôi sau khi chia chác cho hơn mười người con của ba đời vợ mỗi người chỉ được có vài công đất vườn. Lại nhằm lúc đất nước trong thời kỳ giặc giã nên ba má tôi phải bỏ vườn đất lên tỉnh thành sống bằng nghề gõ đầu trẻ nuôi bảy người con.

Khoảng trước năm 1954 ba má tôi trở về làng mở trường dạy học. Tôi là đứa con gái giữa của bảy anh chị em nên ít được sự chú ý của cha mẹ. Khi tôi vào khoảng năm -bảy tuổi suốt ngày chỉ rong chơi, tôi đã biết yêu thích những cánh đồng xanh, những vườn dừa rợp bóng, những con sông, rạch nước đục màu phù sa. Tôi ham đi đắp mương bắt cá, đặt gió bắt tép… Ngày nào tôi cũng đi lanh quanh mãi đến khi nghe tiếng trống ba dùi báo hiệu giờ học tôi mới chạy về cho kịp giờ vào lớp. Những ngày nghỉ học tôi lại xin theo chị giúp việc nhà đi quơ củi, lá dừa về đun bếp. Tôi còn biết vào rừng bứt mây để làm giây để nhảy, chặt tre để làm đũa chơi đánh đũa…Lúc đó tôi là một đứa trẻ nhà quê đen đúa, mốc cời, quần áo lấm lem hôi mùi bùn bẩn. Tôi theo những đứa trẻ quê băng đồng hái rau, di lượm dừa rụng và chơi đùa, trốn kiếm trong những đêm sáng trăng, hòa đồng với chúng như những đứa con nhà nông. Mỗi lần má tôi nhớ đến tôi thì thế nào tôi cũng bị một trận đòn nên thân vì tôi đã phạm rất nhiều lỗi, nhiều đến nổi  má tôi không thể chấp nhận mà phải đưa tôi đi ở với ngoại, theo dì đi học ở trường tỉnh nhưng không đi được bao lâu tôi lại nhớ nhà, nhớ vườn dừa, bờ mương đòi về.

Đến khi làng tôi bị giặc lan tràn, ba má tôi phải đổi về thị xã tiếp tục dạy học, từ đó tôi phải xa hẳn những trò chơi nhà quê. Ba má tôi vẫn còn quyến luyến với hương vị quê cha đất tổ nên mua nhà bên bờ sông có đất rộng đủ để cho ba tôi trồng trồng cây ăn trái, nào là: xoài, mít, ổi, cóc, mận, dừa xiêm, mảng cầu vân…vân dù đôi khi mỗi loại chỉ có một cây, vài loại rau và một ao nhỏ nuôi cá. Tôi không còn rong chơi ngoài đồng nhưng ở nhà tôi cũng có nơi giăng võng, đánh đu, hái trái và uống nước dừa xiêm ngọt lịm trong những buổi trưa hè nắng cháy. Anh ,chị em tôi vẫn có nơi chạy nhảy, vui đùa, hít thở không khí trong lành, gia đình tôi sống an nhàn của một người dân tỉnh lẻ.
 
Thời gian dần trôi, tuổi ấu thơ không nữa , khi tôi trở lại trường Trung Học Kiến Hoà sau hai năm lở dở việc học hành vì một tai nạn xe hơi. Nhìn thấy bạn cùng lớp giờ đều học lớp cao hơn mình tôi đi học lại rất là buồn chán, ba má tôi sợ tôi bỏ học nên bằng lòng cho tôi thi vào lớp đệ ngũ của trường TH NLS Bảo Lộc. Vào năm 1963 trường Trung Học NLS Bảo lộc được chánh thức thành lập và mở khoá thi đầu tiên vào đệ ngũ, đệ tứ và ba lớp đệ tam.
 
Khi tôi được trúng tuyển, má tôi phải lặn lội đường xa, từ Kiến Hòa đến Bảo Lộc, để đưa tôi đi học và cũng muốn tìm hiểu rõ về cách ăn ở, học hành của trường, nhưng chỉ làm ba má tôi thêm lo lắng và than với mấy dì tôi vì má biết tôi vốn ương ngạnh như trâu bò, lười như heo, hoang dại như cây cỏ mà cho tôi vào học ở trường NLS giống như trả thú vào rừng. Mà thật vậy, tôi ở Bảo Lộc năm năm vừa học vừa chơi. Tôi vào rừng hái lan, lên đồi hái sim, lội thác nước, băng đồi trà, chỗ nào tôi cũng tới, vùng nào tôi cũng qua. Những môn Nông Học, Vạn Vật học, Văn học là những môn tôi thích học. Tôi lại có thêm nhiều bạn mới, những người bạn này đều xa nhà nên chúng tôi thông cảm nhau hơn, chúng tôi cùng tập quen với lối sống mới, cùng chia sẻ vui buồn, cùng tranh đua học tập nên biết thương quí nhau. Mỗi lần nghỉ hè về nhà tôi có cảm tưởng lạc lõng và gò bó, cảnh trùng điệp của núi non, mây mù, mưa gió, vườn cà phê, vườn cam, vườn rau, hoa, trái, đồi trà, … được tôi đón nhận một cách thân thiết. Tôi đã trở thành một thiếu nữ biết mơ mộng, cảm thấy mình nhỏ nhoi khi đứng trước cảnh trí bao la, hùng vĩ, lẻ loi khi xung quanh tôi không một tiếng động con người, tôi yêu màu xanh của lá, muôn màu của hoa, tiếng chim hót trong rừng, tiếng nước chảy bên suối…Vì vậy nên suốt năm năm học ở Bảo Lộc đã để lại cho tôi rất nhiều kỷ niệm khó quên.
 
Đầu năm 1970 tôi dạy ở trường TH NLS Bình Dương, tôi dạy các em thanh thiếu niên khái niệm về Nông Nghiệp, phần đông học trò của tôi là con nhà nông nên chúng tôi đã cùng nhau canh tác trên mảnh đất nhà trường, tôi dần dần đi vào đời sống của nông dân, tôi bắt đầu biết để ý đến khí hậu, đất đai, hoa màu. Tôi cũng đã đổ mồ hôi, nước mắt lên ruộng lúa, luống khoai. Tôi cũng dầm mưa, dãi nắng, cấy cày, bón phân vun xới, tôi cố gắng hòa nhập, nhưng mưa nắng không làm cho tôi rắn chắc, mùa màng  thu hoạch không đủ công khó nhọc. Lúc nhỏ tôi chơi trò nhà nông, lớn tôi đi học nghề Nông, khi trưởng thành tôi tưởng tôi có thể trở thành một Nông dân nhưng dù có bỏ ra công sức tôi cũng chỉ là một người đi trên con đường Nông Nghiệp mà không thể dừng bước được. Tôi tiếp xúc, cảm thông với họ nhưng tôi không cần mẫn và nhẫn nhục sống như họ được nên tôi bỏ đi.
 
Khi đinh cư ở Mỹ, tôi tưởng cái duyên với Nông Nghiệp của tôi đã hết. Vào thập niên 1980 ngành Điện Tử đã bắt đầu bành trướng mạnh, nhất là ở vùng vịnh San Francisco, hãng xưởng mở ra rất nhiều, già trẻ, bé lớn đều có thể xin được việc làm. Lúc đó hai vợ chồng tôi phải nuôi ba cháu và hai con thế mà tôi vẫn chứng nào tật nấy, ương ngạnh và lười biếng. Sợ theo không kịp với đà tiến bộ của kỹ thuật điện tử, sợ không đủ thì giờ lo cho gia đình nên khi vào trường San Francisco City College thấy có nghề chăm sóc hoa kiểng và nghệ thuật cấm hoa là tôi chọn ngay. Thế là tôi lại trở về nghề liên quan đến Nông Nghiệp, tuy tôi không phải cuốc đất, trồng cây, không dầm mưa giãi nắng nhưng tôi vẫn làm bạn với cây kiểng, vui với bông hoa. Dù sống ở thế giới văn minh đầy tiến bộ khoa học mà mãi đến bây giờ đi đến đâu điều tôi chú ý nhất cũng là màu sắc, cây cảnh thiên nhiên. Sau hơn 20 năm chọn nghề cấm hoa làm kể sinh nhai tôi vẫn vui bước chân trên con đường Nông Nghiệp, khi mỏi mệt tôi ngồi nghỉ dưới tàn cây mà nhìn trời cao đất rộng, nhìn đời sống vội vã, ganh đua  bên đường mà bằng lòng với sự giải dị, đơn sơ của đời mình.
 
Viết đến đây tôi phải ngưng vì đã đến giờ đi làm, ở vào tuổi 60 tôi an phận với việc làm của tôi. Tôi giúp cho khách hàng chọn cây kiểng thích hợp, cách chăm sóc bón phân cho chúng đơm hoa, kết nụ để tô điểm cho sân vườn nhà họ, để họ có được đôi phút thảnh thơi sau những giờ đương đâù với con số, vất vả với sự tiến bộ đòi hỏi của con người. Tôi tưới nước, tỉa cành cho cây được tươi tốt vừa lòng người mua. Tôi làm việc một cách lặng lẽ, không tranh giành, chạy đua theo thời gian. Tôi hít thở không khí trong lành, trước mắt tôi là màu sắc rực rỡ cuả những nụ hoa vừa mới nở, nụ cười  trên môi để chào đón một ngày bình yên.
 
Huỳnh Thị Hương
(Trích Đặc San 2008)