Lời nói đầu
 
Người ta thường nói người trẻ sống cho tương lai, người già thì sống bằng quá khứ. Chúng ta những bằng hữu NLSBL khắp bốn phương trời, nay tuổi đều đã tròm trèm sáu mươi hoặc hơn nữa, cũng không thoát khỏi quy luật đó, chúng ta nhớ về một thời hoa mộng, thời mà được xem là đẹp nhất: ”tuổi học trò”. Hôm nay để góp một bàn tay với trang nhà ngày càng trở nên vững mạnh và phong phú, tôi viết bài này để chia xẻ cùng với các bạn cơ duyên nào đã đưa đẩy tôi đến với ngôi trường NLS của chúng ta, nơi tôi đã cho tôi một tình bạn tuyệt vời, dù bất cứ nơi đâu cũng không thể tìm được, và cũng muốn rằng những con của tôi khi đọc được bài này sẽ biết được ngày xưa Bố nó đi học vất vả như thế nào.
 
Vào truyện
 
Tôi được sinh ra ở một vùng ven thành phố được mang tên là thành phố của sương mù, thành phố của hoa. Những người đã sinh ra, lớn lên hoặc đã có thời sống qua ở nơi đó vẫn có được một cảm xúc ấm áp, một cái gì thân thương, êm đềm gợn lên trong lòng khi nghe những bản nhạc nhạc hát về vùng đất lạnh đó như Ai lên xứ hoa đào dừng chân mang về một cành hoa…hay …
Tôi nhớ Đà Lạt mơ ru hồn người lữ khách với bao nhiêu mộng lành… hoặc Đứng trên triền dốc nhìn xuống đồi thông, hàng cây thẫm mầu đèn lên phố phường, mình tôi đi trên phố vằng, có ai thương bước cô liêu một người đi trong sương rơi…Đà Lạt ơi, có nghe chăng Cam Ly khóc tình đầu dang dở….
 
Và rồi cũng như đại đa số những cư dân sống quanh vùng Đà Lạt, lợi tức của gia đình tôi hoàn toàn lệ thuộc vào nghề trồng rau. Một mảnh vườn hẹp chạy dài thoai thoải theo chân núi đá, đất đai không được tốt lắm nên cuộc sống rất là cơ cực.   Những lúc được mùa và hàng hoá có giá thì cuộc sống còn dễ chịu, ngược lại những lúc “trời nổi cơn gió bụi” thì ôi thôi! không những đã rất vất vả khốn khó mà còn kéo theo nợ nần chồng chất.
 
Tôi là con trai thứ hai trong gia đình có sáu anh chị em và cũng là người may mắn được học hành tương đối đầy đủ. Thửa còn nhỏ, tôi theo học tại một trường làng, tôi học không có gì là xuất sắc lắm, nếu không muốn nói là dở. Tôi còn nhớ hai môn học đáng sợ nhất là mộn vẽ và văn. Hôm nào tập làm văn tại lớp thì tôi bao giờ cũng được điểm thấp, còn cho mang về nhà thì điểm khá hơn, nhờ lục lọi bài mẫu hoặc nhờ bạn bè giúp đỡ. Thí dụ như nếu thầy giáo bắt tôi tả con mèo, tôi chỉ biết viết :”nhà tôi có một con mèo tam thể, nó có ba màu…… và sau vài câu là tôi tịt ngòi vội vàng kết luận : em rất yêu con mèo vì nó bắt chuột cho nhà em.”. Văn vẻ rất giản dị đến độ nghèo nàn, giản dị và nghèo nàn giống như cuộc sống của gia đình tôi lúc bấy giờ
 
Có lẽ vì thế mà khi học hết bậc tiểu học, tôi thi mãi vào trường công vẫn không đậu. Toàn thành phố chỉ có hai trường công lập, một trường cho nam sinh là trường Trần Hưng Đạo và một cho nữ sinh là trường Bùi thị Xuân. Được đi học trường công không những là vinh dự mà còn giải quyết được khó khăn trong vấn đề học phí. Để thi vào đệ thất, tôi phải qua ba môn: toán, văn và một môn tổng hợp những kiến thức về sử-địa, khoa học thường thức. Học sinh thi vào rất đông mà số người được nhận có giới hạn, do đó việc thi cử của tôi gặp rất nhiều khó khăn, ấy là chưa tính đến truyện có kẻ còn lo lót, chạy chọt. Chính vì thế mà tôi đã không ngạc nhiên khi thi rớt lần đầu và được gia đình cho tiếp tục việc học tại một trường trung học tư thục công giáo.
 
Tôi học rất xuất sắc, luôn luôn dẫn đầu lớp, tháng nào cũng mang bảng danh dự về khoe với gia đình cũng như cuối năm ôm đống phần thưởng về nhà. Nhưng khó khăn nhất cho tôi là việc đóng học phí, tháng nào tôi cũng đóng trễ, có khi thiếu đến vài tháng, có lúc nhà trường gọi lên và dọa đuổi học nếu tôi không đóng đủ tiền học. Những lúc như thế, tôi đành phải về thưa lại với Mẹ tôi và rồi tối hôm đó, hai Mẹ con lại mon men đi ra nhà bà chủ vựa rau để mượn tiền trước và sẽ trừ vào số hàng bán khi thu hoạch. Với kiểu vay mượn này thì gia đình tôi sẽ không thể bán được hàng cho một chỗ nào khác mặc dù chỗ đó có nhiều lợi hơn.
 
Tôi còn nhớ từ nhà tôi tới nhà bà chủ vựa rau tuy không xa lắm, nhưng vì ban đêm trời thì tối, lại không có đèn đường, lại phải băng qua một cây cầu nổi tiếng là có nhiều ma, cho nên dù Mẹ có mang theo bó đuốc làm bằng những cây ngo dầu (cây thông có dầu,dùng tiếng địa phương),  nhưng ánh lửa yếu ớt lung linh từ bó đuốc nhỏ bé chỉ làm tăng thêm nỗi sợ hãi vì thế Mẹ thường dẫn tôi đi theo cho đỡ sợ.
 
Mỗi lần tới thì Mẹ tôi phải giúp bà chủ sửa soạn lại những đống rau chất ngổn ngang và rất nhiều việc khác cho đến khi rã rời cả chân tay thì mới dám mở lời mượn tiền. Tuy tôi biết việc đi mượn tiền là rất tủi nhục, nhưng lúc nào tôi cũng hăng hái đi theo Mẹ, không phải là để phụ giúp Bà cái gì cả, vì tôi biết gì đâu mà giúp, nhưng chỉ là để có dịp nhìn ngắm cô con gái rất ư xinh đẹp của bà chủ cũng trạc tuổi tôi. Tôi thích nàng lắm mặc cho lời đồn đãi rằng nàng là gái lẳng lơ như hai cô chị của nàng. Vì thế trong lúc Mẹ tôi đang bận rộn tất bật với công việc mượn tiền thì con mắt tôi ngó ngang ngó dọc, chỉ canh trực tìm nàng, thỉnh thoảng nàng xuất hiện bất ngờ và chỉ một lời hỏi thăm thông thường :”Bang đó hả!”, hoặc nở một nụ cười nhẹ thay cho lời chào cũng đủ làm lòng tôi mê đi vì sung sướng, và mang theo vào trong giấc mơ.
 
Đến cuối năm đó, tôi lại chuẩn bị thị vào lớp đệ thất trường công lập, nhưng cũng chằng may mắn gì hơn năm ngoái, tự an ủi rằng dù sao học đệ lục trường tư cũng oai hơn đệ thất trường công cho dù vấn đề học phí vẫn là mối lo lắng vô cùng. Nhà tôi cách thành phố khoảng tám cấy số, sức học trò nhỏ bé không thể “vạn lý trường chinh” được, mà con nhà nghèo thì chuyện xe đạp chỉ là chuyện mơ! vì thế hàng ngày Mẹ cho tôi hai đồng để đi xe đò, nếu hôm đó phải học thêm buổi chiều thì sẽ được thêm một đồng cho ổ bánh mì xịt tí nước mắm, đó là bữa ăn trưa trường kỳ của thời thơ ấu.
 
Vậy mà có nhiều lúc Mẹ hết cả tiền nên tôi phải xin Bác Tài Xế xe đò cho thiếu hoặc phải đi nhờ xe của ông Chú họ. Riêng để đối phó với bữa ăn trưa thì tôi phải cuốc bộ khoảng ba cây số đến nhà các Cô tôi để xin ăn chực. Cho dù trí óc còn non nớt, nhưng tôi cũng đã đủ hiểu nên khôn khéo xếp đặt nay nhà Cô này mai nhà Cô khác, vậy mà cũng không thể né tránh được những cặp mắt khinh thị của những đứa em họ, con của các Cô tôi. Đến bây giờ, mỗi khi hồi tưởng lại, tôi vẫn còn nhớ những miếng cơm cay đắng nghẹn ngào mà tôi đã cố gắng nhồi nhét xuống cái bao tử trống rỗng để còn lấy sức trở lại trường học và buổi chiều lết về nhà.
 
Cuối năm đệ lục, vâng theo lời Mẹ, tôi lại chuẩn bị thi vào đệ thất trường công một lần nữa. Nhưng với một tâm trạng chán nản chủ bại, chưa thi mà đã muốn rớt, vì nếu đậu thì tôi phải học lại hai lớp, nên khi nghe kết quả của kỳ thi năm đó thì Mẹ tôi chỉ còn biết than thở “Nhà mình không có mạng thi cử”. Ngày xưa, theo như lời Mẹ tôi kể thì Ông Nội tôi tuy rất hay chữ nhưng rầm rộ vác lều chõng đi thi thì cũng chỉ âm thầm vác lều chõng trở về thôi chứ Bà Nội tôi đã không bao giờ có dịp “em ra đón tận cổng làng, chồng em cỡi ngựa cả làng mà ra xem….”   mà còn suốt đời làm lụng vất vả để chăm sóc gia đình. Ông tôi chỉ biết ngâm thơ đọc sách, thỉnh thoảng mới có người mang đến cặp giò gà đã trụng để nhờ xem vận số hay xin viết vài câu đối cho căn nhà mới.
 
Những năm kế tiếp sau đó, năm nào tôi cũng được lãnh phần thưởng vì học xuất sắc, được một cái là tiền học phí thì lại nhờ vào ông anh đang đi lính ở địa phương giúp đỡ nên không những tôi không còn phải mất thì giờ để lo việc trốn tránh cô thư ký mà đôi khi còn hùng dũng bước vào văn phòng để xin chứng nhận vài giấy tờ cần thiết.
 
Cứ như thế, thời gian thấm thoát trôi qua, với những ngày đi bộ dưới cơn mưa tầm tã buốt lạnh để nuốt những miếng cơm cay đắng nghẹn ngào, với những ngày năn nỉ xin thiếu tiền xe đò đến trường, tôi đã lên lớp đều đặn cho đến kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp. Mặc dù biết tôi học giỏi và chăm chỉ, nhưng Mẹ tôi vẫn lo lắng vô cùng vì “nhà mình không có mạng thi cử”. Tôi vẫn thấy hình bóng Bà đứng âm thầm trong bóng đêm lâm râm khấn vái phật trời độ trì cho tôi được thi đậu.
 
Trong lúc đang chờ kết quả của kỳ thi thì anh Việt, người bà con bên Mẹ tôi đến chơi. Gia đình anh Việt ở Huế, anh đã học khoá 8 Cán Sự trường Quốc Gia Nông Lâm Mục, sau đổi tên là Nông Lâm Súc ở Bảo Lộc và hiện đang làm việc tại trường đó. Biết tôi học khá nên anh đề nghị tôi nên thi vào trường này, tôi rất phấn khởi về lời khuyên của anh cho dù lúc đó tôi hoàn toàn không biết tí gì về ngôi trường Nông Lâm Súc này. Nó ở đâu? học cái gì? Mặc kệ, vấn đề chính trước mắt và quan trọng hàng đầu là gia đình tôi sẽ không phải lo tiền học phí cho tôi một khi tôi được học ở đó.
 
Anh Việt giúp tôi làm mọi đơn từ cần thiết cho kỳ thi tuyển, đến lúc này tôi mới biết trường nằm ở tỉnh Bảo Lộc cách Đà Lạt về hướng Sài Gòn khoảng 120Km. Trường đào tạo ba ngành chính là Canh Nông Thuỷ Lâm và Mục Súc. Tôi đã suy nghĩ: anh Việt học Canh Nông và đơn giản hơn nữa là gia đình tôi cũng đang sống bằng nghề trồng tiả, nên tôi nhận thấy xin thi vào ban Canh Nông là thích hợp nhất cho hoàn cảnh của tôi lúc bấy giờ.
 
Nhưng một trở ngại là trong đơn đòi hỏi phải có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp mà lúc đó tôi chưa có kết quả cuả kỳ thi vừa qua, nên anh Việt nói tôi làm một tờ giấy cam đoan rằng nếu tôi thi đậu vào trường Nông Lâm Súc nhưng thi rớt Trung Học Đệ Nhất Cấp thì tôi vẫn không được vào học. May mắn thay, chắc những lời khấn nguyện âm thầm trong đêm của Mẹ tôi được đáp ứng hoặc lời nguyền “nhà mình không có mạng thi cử” đã chấm dứt nên tôi không những vừa thi đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp năm đó lại đậu luôn hạng tám vào lớp Canh Nông. Phải nói người vui mừng nhất chính là Mẹ của tôi, vì tôi thấy Người đã dám bỏ ra một số tiền không nhỏ để làm lễ tạ ơn trên đã thương tình ngó lại cho đứa con trai của bà.
 
Lần đầu tiên bước chân đến trường Nông Lâm Súc, tôi không khỏi bàng hoàng và sững sờ vì sự đồ sộ đẹp đẽ của nó. Với chiều ngang dài gần cây số chạy dọc theo quốc lộ 20, ranh giới bắt đầu từ tiệm trà nổi tiếng Đỗ Hữu về hướng Sài Gòn, rồi đến dãy nhà các giáo sư như nhà của thầy Hoành, thầy Định, thầy Ẩn, Cô Lan và Cô Ngọc; tiếp theo là căn Đại Thính Đường to lớn mà trường xử dụng cho những kỳ thi Trung Học và Tú Tài cũng như những đêm văn nghệ do chính học sinh trong trường đứng ra tổ chức và bán vé cho dân chúng vào xem; sau đó là 3 dãy phòng học rộng rãi với những chiếc ghế dính liền với bàn riêng biệt cho từng học sinh; tiếp theo là Văn Phòng của trường, rồi ẩn hiện sau khu rừng Lâm Sản là căn “Nhà Trắng” của thầy Hiệu Trưởng theo sau là những căn nhà của Cô Kim, thầy Thiệp, thầy Việt (anh bà con của tôi) v..vv… rồi đến khu nhà của những nhân viên làm việc trong trường, cuối cùng là căn nhà sàn vững chắc của thầy Huyên nằm sát bên cạnh cổng sau của trường… ra khỏi đó là con đường chúng tôi đi ra phố với đồn Quân Cảnh, tiệm ăn Ngọc Lan, Nam Huê v..vv..
 
Bề sâu thì từ ngôi cổng to lớn chạy vào đến Văn Phòng rồi qua các dãy phòng ngủ cũng như văn phòng Tổng Giám Canh nhà ăn nhà tập võ sân đá banh cho đến nhà máy đèn sát bìa rừng cũng khoảng 600 mét…. Đó là chưa kể khu rừng rộng mênh mông 800 mẫu phía sau trường cho lớp Thủy Lâm, rồi những đồi trà, nhũng vườn cam, vườn cà fê, vưòn rau rộng bạt ngàn cho lớp Canh Nông, những trại chăn nuôi gà, heo, những chuồng trâu bò ngựa cho lớp Mục Súc, những nhà kho, nhà chứa xe nơi những chiếc xe dodge xe jeep nằm khiêm nhường bên cạnh những chiếc máy cày to khổng lồ Catepillar, Kubuta ngạo nghễ. Quả thật trường tôi rất ư là to lớn.
 
Cuộc sống nội trú nơi đây đã dạy cho tôi rất nhiều điều hay cũng như vài điều không hay, tuy nhiên từ đó về sau, mỗi khi có dịp trở về thăm nhà, tôi thường hãnh diện với bạn bè là tôi đang được theo học tại một trường Trung Học Kỹ Thuật lớn nhất vùng Đông Nam Á lúc bấy giờ.
 
Giờ đây, sau nhiều thập niên xa cách, tôi vẫn nhớ mãi về ngôi trường xinh đẹp và rộng rãi này, nơi đã cho tôi những chuỗi ngày vô tư, chỉ biết học hành, ăn ngủ cùng những ước mơ nhỏ bé của tuổi niên thiếu, nơi đã cho tôi những kỷ niệm ray rứt của những ngày tháng đầu tiên sống xa gia đình, những tình cảm trong sáng chân thật của bạn bè từ khắp mọi miền đất nước, cùng nhau san xẻ và xây dựng một tình thân Nông Lâm Súc hiếm có được nếu không muốn nói là không thể thấy được ở những ngôi trường khác.
 
Đến nay, cho dù chúng tôi vì hoàn cảnh phải sống rải rác khắp bốn phương trời, người thì vẫn còn ỏ lại đất nước, kẻ thì phải tha hương nơi Âu Châu, Mỹ Châu, Úc Châu v..vv nhưng chúng tôi vẫn luôn luôn nhớ về nhau, vẫn liên lạc với nhau qua trang web nlsbaoloc.info, qua trang web này chúng tôi ngậm ngùi nhắc nhở nhau về những kỷ niệm của những tháng ngày cùng chung dưới mái trường Nông Lâm Súc thân yêu, nơi có những đồi trà đồi cà fê thẳng cánh cò bay, nơi có núi Đại Bình mà sương mù thường che phủ, có thác Đam Rông chứng kiến cho những cuộc tình thơ dại….. nơi mà….. nơi mà….. Ôi! thương làm sao kỷ niệm của một thời đã qua!!
 
Viết xong ngày 18 tháng 7 năm 2008 
Lê đình Bang (CN 65-68)
Trích từ ĐS NLS-2008