Học viên Nông Lâm Súc Bảo Lộc từ tứ xứ quy tụ về vùng núi đồi hẻo lánh, ăn ở học hành với nhau năm ba năm, vì thế, biết bao chuyện vui buồn với nhau, với trường đã trải dài theo năm tháng, khiến cho họ có nhiều gắn bó với bạn đồng môn và ngôi trường cũ hết sức đậm đà. Đời học sinh là những gi hết sức trân quí, những kỷ niệm thời học sinh thật dễ thương. Cuộc đời của học sinh Nông Lâm Súc Bảo Lôc còn được khắc đậm thêm, vì không những họ cùng đến trường với nhau mà còn sống chung đụng với nhau trong môt thời gian khá dài, trong khi tuổi đời còn quá nhỏ! Những chuyện vui buồn, qua thời gian, đã trở thành một chất keo kéo họ gần với nhau, hết sức đặc biệt. Nhiều anh chị cựu học viên đã gọi đó là “tình Nông Lâm Súc Bảo Lộc”.

 

Những người phục vụ cho nhà trường, như thầy cô giáo và nhân viên, thì sao? Có gì khác biệt với những môi trường khác không? Quả thật cũng có những nét đặc thù của nó.

Vì Bảo Lôc chỉ bắt đầu phát triển khi có làn sóng di cư từ Bắc vào Nam, và đại đa số đồng bào ở Lâm Đồng là người Bắc di cư, nên phần lớn nhân viên của trường là người miền Bắc. Họ có cùng cảnh ngộ, bây giờ lại làm việc với nhau và sống quây quần với nhau trong khuôn viên trường, nên họ đã đối xử với nhau như bà con ruột thịt.

Ở phòng Hành Chánh Tài Chánh có ba vị đều là họ Phạm, họ làm việc và cư xử với nhau rất khéo, ai mới đến tưởng là họ có họ hàng với nhau. Thầy Phạm Văn Nhung mà chúng tôi thường gọi là ông Phán Nhung, phụ trách về hành chánh tài chánh, tính tình vui tươi niềm nở với mọi người. Suốt bao năm gần gũi, không hề thấy ông Phán than thở điều gì. Ông Phán làm việc rất hiệu quả, nhờ thế mà hằng năm bảng ngân sách của trường, bảng thăng thưởng nhân viên, bảng thanh toán tiền phụ trội cho thầy cô giáo…v...v…không bao giờ sai hay chậm. Bên cạnh thầy Nhung có thầy Phạm Trịnh Hiển, người to cao, chúng tôi thường gọi là ông Thần Tài, vì thầy vừa phụ với thầy Nhung về hành chánh vừa kiêm nhiệm phát ngân viên của trường. Mỗi khi ông thần tài xách cặp ra Ngân khố là chúng tôi lại rủng rỉnh có tiền xài. Thầy Hiển tính tình hòa nhã, vui tính, có lần chúng tôi kéo thầy làm thủ môn cho đội giáo chức Nông Lâm Súc! Lần đó chúng tôi thua vì ông thủ môn để banh lòn khe mấy lần! Cùng làm việc với ông Phán và ông Thần Tài là thầy Phạm Văn Đạt, phụ trách đánh máy. Thầy Đạt không ở trong trường mà ở bên chợ Bảo Lộc. Ngoài công việc ở trường, thầy có mở tiệm cho thuê bàn billiard. Tính tình phóng khoáng, sẵn sàng giúp người nên ai cũng mến. Dù không phải là bổn phận, nhưng thầy cô nào gặp khó khăn trong việc đánh máy và in ronéo bài vở, thầy sẵn lòng giúp ngay.

Bên phòng Học vụ có Thầy Nguyễn Văn Nhất, còn gọi là thầy “Nhất đầu bạc”, để phân biệt với Bác Nhất cai trường. Thầy Nhất chịu trách nhiệm về danh sách hoc viên hiện tại cũng như đã ra trường. Thầy còn quản trị bảng gốc học bạ của tất cả học viên. Ngoài việc quản thủ hồ sơ một cách chặt chẽ và ngăn nắp, thầy còn có một biệt tài là nhớ tên học viên rất giỏi. Chỉ sau ngày khai giảng khoảng vài tuần lễ là thầy đã nhớ tên của tất cả học sinh mới! Thầy Nhất tính tình điềm đạm, lời ăn tiếng nói lúc nào cũng nhỏ nhẹ phù hợp với không khí nhà trường.  Hàng tháng Thầy lại có dịp đem niềm vui đến cho những học viên xa nhà – gọi học viên đến nhận ngân phiếu từ gia đình, vì vậy, thầy Nhất được học viên yêu mến cũng là thường tình.

Bên học vụ còn có một người mà không ai ở Nông Lâm Súc Bảo lộc có thể quên được, đó là thầy Mai Bách Huyên mà nhiều học viên gọi là Bố, không biết vì thầy cư xử với học viên thân thiết như tình bố con, hay vì thầy có cô con gái cưng rất xinh xắn! Bố Huyên tuy đã lớn tuổi, nhưng rất cầu tiến. Vừa làm việc vừa tự học. Từ một nhân viên trong phòng Học vụ, thầy đã từng bước nâng trình độ học vấn của mình, và sau cùng đã vượt qua kỳ thi đặc biệt của Bộ Giáo Dục để trở thành Giáo Sư Trung học Đệ Nhất cấp. Thầy được Nha Học Vụ chính thức bổ dụng làm Phụ tá Giám Học, đồng thời dạy Pháp văn cho các lớp 8 và 9. Công việc của Bố Huyên là soạn thảo những văn thư cho Phòng Giám Học, đề xuất nghị trình cho Hội Đồng Giáo Sư và làm nhiệm vụ Thư ký cho Hôi đồng, giúp Giám học theo dõi chương trình giảng dạy, giúp Giám học chuẩn bị cho các kỳ thi lục cá nguyệt, và cuối cùng là lên thời khóa biểu. Cứ mỗi đầu năm học, thường là có người chuyển đi và người mới đến, Bố Huyên lại phải mất cả tuần lễ để điều chỉnh thời khóa biểu. Lên một thời khóa biểu là một nghệ thuật. Sắp xếp thế nào để các môn học được phân bố một cách hợp lý, đồng thời cũng cần chú ý đến sự thuận lợi cho thầy cô giáo. Thầy thường hỏi từng thầy cô giáo để biết nguyện vọng của mỗi người và cố gắng sắp xếp, điều chỉnh đi điều chỉnh lại nhiều lần. Thường mọi người rất hài lòng với việc làm của Bố Huyên. Trong cảnh bể dâu, người bố, người thầy của nhiều thế hệ học viên, đã bỏ mình trong trại tù cải tạo!

Nông Lâm Súc Bảo lộc hoạt động có phần nào độc lập đối với tỉnh và thị xã. Những công việc liên quan đến trường thường là trực tiếp với Nha Học Vụ Nông Lâm Súc tại Sài Gòn chứ không thông qua Tỉnh, hơn nữa những tiện nghi như điện nước phải tự túc. Nhà trường có hệ thống điện nước riêng. Những năm về sau, hệ thống nước đã cũ kỹ vì thiếu ngân sách bảo trì, đã gây không ít khó khăn cho học viên và thầy cô giáo. Nói đến điện nước phải nói đến Bác Nguyễn Văn Long, Bác Trần Văn Giáp. Tôi chỉ còn nhớ là bác Giáp phụ trách về nhà máy điện, đến sau này khi chuyển đường dây của tỉnh vào thì bác lại tiếp tục chăm sóc đến đường dây cho từng đơn vị. Bác Long là một người thợ kỹ thuật có tay nghề rất cao và rất thông minh. Bác Long có thể làm được rất nhiều việc. Xe hư cũng bác Long, máy nước hư cũng bác Long, muốn làm cổng trường cũng bác Long. Những máy cày, máy kéo của nhà trường, tuy thuộc ban Công Thôn, nhưng khi có vấn đề đều phải nhờ đến tay bác Long. Bác Long làm việc siêng năng và sáng tạo, nhưng không muốn ai sai khiến. Muốn bác làm, nên nói khéo một chút thì việc sẽ xong.

Ở bộ phận Trại còn một người nữa rất đặc biệt là Bác Nguyễn Đình Dậu, mọi người thường hay gọi là bác “Cai Dậu”. Tôi cũng chưa hề thắc mắc vì sao gọi là bác cai, chỉ biết bác tốt nghiệp Huấn Sự Canh Nông từ thời xa xưa. Thời đó với cái bằng Huấn sự có thể làm trưởng chi, đôi khi làm cả trưởng ty. Bác chỉ muốn làm một chuyên viên kỹ thuật thôi! Một cơ duyên nào đó, bác đã được huấn luyện trở thành một chuyên viên ghép cây siêu đẳng. Bác người thấp, nhỏ con và luôn luôn chân lấm tay bùn. Có lẽ bác say sưa với nghề nghiệp, bác chỉ muốn quanh quẩn với đất với cây. Bác luôn luôn vui vẻ và hòa nhã với mọi người.

Nhắc nhở đến những con người của Nông Lâm Súc Bảo Lộc mà không nói đến bác Tuân là một thiếu sót. Bác Tuân làm nhiệm vụ tài xế, những chuyến công tác Bảo Lộc - Sài Gòn phần lớn do bác đưa đi với chiếc xe Ford. Bác Tuân vui tính và cởi mở, có kinh nghiệm lái xe trong nhiều năm nên mọi người luôn yên tâm khi đi với bác. Cùng ngồi xe với bác trên đường dài sẽ được nghe nhiều câu chuyện lý thú.

Trường có 5 lưu xá cho học viên. Các lưu xá A, B, C, D dành cho nam học viên, và lưu xá E cho nữ hoc viên. Thầy Trần Đăng Thảo, cũng được một số thầy và nhiều học viên gọi là Bố Thảo, làm Quản Đốc Ký Túc Xá. Giúp việc cho Thầy có Cô Vũ Thị Thế phụ trách bên nữ, và Thầy Đào Văn Bội phụ trách bên nam. Cô Thế sống và làm việc ở trường một mình, cô rất ít nói, tính tình cô rất dễ chịu, nhưng với cặp kính cận nhiều độ, trông cô hết sức nghiêm nghị. Qua bao thế hệ học viên, cô đã làm tròn nhiệm vụ vượt bực! Cô thương yêu các nữ học viên như con của cô, đồng thời cô không khoan nhượng để buộc các nữ học viên trong khuôn phép. Bất cứ giờ nào cô cũng có thể kiểm tra lưu xá, thỉnh thoảng cô nghỉ đêm tại lưu xá để hiểu rõ việc học hành ăn ở của học viên. Nếu có trường hợp vi phạm nội quy, cô thường cố gắng sửa sai giữa cô và học viên, rất ít khi cô đưa vấn đề ra Hội Đồng nhà trường. Cô rất nghiêm khắc, nhưng the tôi là nghiêm khắc của tình mẹ con. Vì vậy, các nữ học viên vừa nể vừa thương cô.

Đối với nam học viên thì nhiều manh động hơn, và phải chịu trách nhiệm đến bốn lưu xá, nên thầy Bội cũng hết sức vất vả. Đối đầu với các nam học viên này đâu phải là chuyên dễ, các cậu có nhiều mưu thần chước quỷ làm cho thầy Bội điên cả đầu. Thường là thầy phải nhờ đến cấp trên của mình là Bố Thảo. Thầy Thảo tính tình hiền hòa, thương yêu học viên như con. Thầy hiểu sâu sắc tuổi trẻ, giải quyết vấn đề rất thận trọng, và rất ít khi dùng đến kỷ luật mà thường lấy tình thầy trò để khuyên lơn ngăn chận việc làm sai trái của học viên.

Còn nhiều người nữa mà tôi không biết rõ lắm như ở phòng Giám học trước kia có anh Nguyễn Tôn Nhan, và sau này thì có cô Tuyên, cô Tho, thầy Ký, thầy Kỳ. Cô Huỳnh Thị Phấn phụ trách môn Nữ Công Gia Chánh cho các nữ học viên, tôi không nhớ rõ cô rời trường chuyển đi trường khác hay về hưu năm nào? Ở phân xưởng mộc còn có bác Nguyễn Văn Bột, trong nhà ăn có bác Tố, bác Phồn và các bác khác phụ trách cung cấp các bữa ăn hàng ngày đến học viên. Một điều tôi lấy làm thương tiếc vô cùng là bác Nguyễn Đăng Ký đã quá bức xúc trong cuộc đổi đời sau năm 75 nên đã tự ý từ bỏ cuộc đời!

Một số nhân viên của trường nêu trên bây giờ có người còn sống nhưng đa số đã khuất bóng, có lẽ hình ảnh những con người đó sẽ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần khi những người bạn Nông Lâm Súc Bảo Lộc gặp lại nhau. Hy vọng rằng những hình ảnh đẹp đó còn mãi với chúng ta.

Trường Từ
Trích Đặc San 2008