{jcomments on}Thầy Nguyễn Văn Vũ – Người Thầy hiền hòa, tử tế còn sót lại từ thế kỷ trước

altNhững tưởng không bao giờ có cơ may liên lạc với Sâm, cô bạn học vừa xinh đẹp, vừa thông minh một thời rất thân với tôi. Một ngày đẹp trời năm 2002, có lẽ duyên may đã đủ, tôi nhận được cú gọi của nàng. Lữ thứ nơi miền đất lạ, cả hai không dấu được niềm vui tràn bờ khi tìm được bạn học của thời son trẻ. Chúng tôi rối rít thăm hỏi quãng đời của nhau - sau 34 năm bặt tin, vô tín. Chỉ một tuần sau cú gọi ấy, tạm dẹp qua những bận bịu của đời sống, tôi, Mai, bà xã tôi, vượt ngàn dặm đến thăm đôi uyên ương Sâm Tịnh. Phăng ra từ dây mơ rễ má của cả hai, chúng tôi tìm thêm được một số bạn học cùng lớp, cùng trường và kết thành một nhóm với sinh hoạt khá ồn ào. "Chợ Tân Bùi" - dư âm của những năm tháng cũ -  được lấy làm tên cho nhóm chúng tôi. Bạn hàng đến nhóm chợ mỗi lúc mỗi đông và vui hơn.

Cũng từ cú gọi ấy, Sâm cho tôi một món quà thật quý giá là tin Thầy Nguyễn Văn Vũ, anh rể của Sâm, đang ở một thành phố chỉ cách tôi khoảng nửa giờ lái xe. Mừng quýnh, tôi gọi và được Thầy cho gặp ngay ngày hôm sau.

Lớp chúng tôi được học với Thầy hai năm liên tiếp - môn Việt Văn (tam nhị, 65-67). Thầy dạy chúng tôi những gì, xin trời nhớ phụ tôi! Tuy nhiên, tôi còn nhớ khá rõ hình ảnh tận tụy của người thầy, khi giảng bài với cả sự say mê, hồn  lửng bay trong thế giới riêng của ông. Vốn chuyên khoa Triết nên bài giảng của Thầy phủ đầy niềm bí hiểm, u ẩn của chữ nghĩa, đượm đầy “hố thẳm của tư tưởng”. Trớ trêu thay! chúng tôi, những người học trò, đến trường học để sau nầy trở thành những nông dân làm ruộng, nuôi gà qué... Khi ông say sưa giảng về thân phận đoạn trường của nàng Kiều, những bi ai của nàng chinh phụ chờ chồng, hay những khúc ca ai oán của các nàng cung phi bị quên lãng… thì gần như cả lớp ngẫn tò te, im thinh thít, mặc cho hồn thả trôi hướng về căn nhà cây của chị Tráng kế bên. Chúng tôi mơ nghĩ đến tô bún bò với lớp mỡ vàng, mượt mà nổi trên mặt tô với vài miếng thịt giò béo ngậy!

Góp phần trong việc làm cho lớp trống, có tôi và những người bạn trong nhóm. Có điều lạ, các lớp Thầy dạy sau mấy năm liền, môn của Thầy không có ai bị rớt. Lương Tường Khánh, Lợi Chí Vũ, Tư Lung đều lên lớp thì ai cũng qua truông cả.

Vừa tận tình dạy, vừa thương học trò nên ai cũng thương kính Thầy.  Ông đã dạy các trò “ở đời muôn sự của chung” nên nuôi gà và mất mấy con, Thầy chẳng màng. Nụ cười lúc nào cũng tươi và tiếng cười dòn của Thầy làm cho học trò thật thoải mái khi được tiếp chuyện, dù đêm qua có dự phần ăn thịt gà do Thầy nuôi.

oOo

Buổi gặp gỡ sau hơn 35 năm chia cách kể từ khi Thầy rời trường năm 1967, Thầy tiếp chúng tôi, vẫn với nụ cười bắt gặp ngày cũ - tươi vui, ân cần và đầy thương mến. Thầy trò miên man nhắc nhớ những câu chuyện của ngàn năm trước nhưng tưởng chừng mới xảy ra tuần rồi hay tháng trước.  Và cũng với tâm tình “muôn sự của chung”,  khi được đãi đằng nếu khen món gì thì chẳng những được cho ăn no nê mà còn được ê hề cho mang về. Một bận đến thăm, thấy mấy lọ thuốc trên bàn vợ tôi hỏi thăm và Thầy cho biết đang trị bệnh tiểu đường. Khi cáo từ về, Ông cho một bọc, lũ khũ chai lọ. Phải bánh trái thì cũng cam, còn có thể để dành, ăn từ từ. Dù đã thưa với Thầy là cả hai chúng tôi không ai bị bệnh tiểu đường nhưng ông cứ nài ép mang về, nếu không dùng thì gởi cho ai cần ở VN dùm vì bác sĩ cho nhiều quá không uống hết. Với chân tình như vậy, chúng tôi nhận và suốt nhiều năm liên tục, thỉnh thoảng vài tháng chúng tôi nhận được Thầy gởi cho thuốc và chúng tôi đã chuyển cho những người quen nào đó bên nhà cần thuốc.

Mới đây, nhân anh Dương Phú Lộc từ Mỹ sang.  Chúng tôi đưa đến thăm. Thầy Cô rất vui, một buổi hội ngộ thật thú vị với muôn ngàn câu chuyện "ngày xa xưa ấy".  Khi từ giả Thầy Cô cho mang về bánh cuốn nổi danh ngon nhất khu Saint Clair, Toronto, nơi Thầy đang ở. Nếu huy động cả trường NLSBL của thời chúng tôi học, thì đứa nào cũng được dịp ăn tràn họng và tạm thời quên chị Tráng trong vài năm. Không nhận hết thì bị rầy, nên phải nhận. Phải chi anh Lộc không bận công ăn việc làm và lưu lại chốn này, ăn phụ cho đến ngày anh nghỉ hưu may ra mới hết.

Bất cứ ai là thần dân NLSBL, có hay không có giấy căn cước và sa cơ đến chốn nầy thì cũng bị tôi dẫn độ đến trình diện Thầy. Một bận đưa Cô Ngô Thị Ngọc Trang, bà chị hiền từ nhất lớp tôi đến thăm Thầy. Mài mò trong mưa bão, khi đến nơi gà đã gáy vài canh nhưng Thầy Cô vẫn thức chờ. Dù vốn là học trò cũ của ông, nhưng Cô Trang vẫn được ông lấy lễ thù tiếp, một điều bà Hiệu Trưởng, hai điều cũng bà. Khi chúng tôi về ai cũng được quà bánh lủ khủ mang về. Với ai ông cũng lấy sự ân cần, sự tử tế để thù tiếp.

oOo

Qua những lần thăm viếng và những năm tháng được gần gũi, tôi xin lược kể đôi điều biết về Thầy: 
 
Thầy Nguyễn Văn Vũ tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn năm 1964, ban Triết và được bổ nhiệm về trường trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc, thay thế Thầy Bành Ngọc Quí rời nhiệm sở chuyển công tác khác vào những năm đầu khi trường chuyển sang hệ trung học. Thầy Vũ phụ trách môn Việt Văn các lớp đệ nhị cấp, đồng thời kiêm nhiệm chức Chủ Tịch Hội Đồng Hướng Dẫn và Chủ Tịch Đoàn Thanh Niên Chí Nguyện Qốc Tế (IVS).

Trong thời gian này, Thầy được Bác Sĩ Đặng Quan Điện, Giám Đốc Nha Học Vụ Nông Lâm Súc, giao trọng trách soạn thảo chương trình Triết học cho toàn ngành Nông Lâm Súc, đây là một chương trình Triết học "mới" đã được phê chuẫn, trong đó hai bộ môn: Lao Động và Giá Trị của Lao Động - Hôn Nhân và Tình Yêu, chương trình hoàn toàn đổi mới so với nền giáo dục trung học phổ thông vào thời đó.

Những năm kế tiếp, khi cuộc chiến lan rộng và khốc liệt hơn, chương trình viện trợ của chính phủ Hoa Kỳ dành cho Việt Nam tăng theo, kể cả ngành giáo dục. Năm 1967, Thầy Vũ nhận sự vụ lệnh thuyên chuyển về Bộ Giáo Dục trong chức vụ Chủ Sự phòng Ngoại Viện 2, đặc trách lo về việc tuyển sinh, lập thủ tục để đệ trình lên Hội Đồng Du Học cứu xét qua các chương trình dành cho sinh viên du học và công chức tu nghiệp qua các chương trình của USAID/edu và USIS/edu. Trong thời gian phụ trách, Thầy đã dành nhiều sự ưu ái cho ngành NLS, kể cả Bộ Canh Nông.

Năm 1972, tình hình chiến sự có nhiều chuyển biến cùng với sự cắt giảm của viện trợ Hoa Kỳ, Bộ Giáo Dục đã chuyển chú tâm về mặt cải cách giáo dục, Thầy lại chuyển công vụ qua một số ban nghành của Bộ Giáo Dục như Tổng Nha Trung Tiểu Học, với chức vụ Trưởng Phòng Văn Thư, Ban Thanh Tra Giáo Dục, Ban Giáo Chức và Học Sinh Vụ. Thầy cũng tham gia soạn thảo chương trình "Giáo Dục Tổng Hợp", nhằm cải biến 80 trường trung học phổ thông qua chế độ giáo dục tổng hợp theo mô hình giáo dục của Mỹ, và chương trình này đã phải bỏ ngang vì sự thay đổi lớn trong cục diện chiến tranh của đất nước.

Sau năm 1975, Thầy đã trở về ngành giáo dục qua việc giảng dậy môn Việt Văn cấp 2. Đến năm 1984, Thầy được cho nghỉ việc.

Năm 1990, Thầy định cư tại Toronto, Canada, làm việc và cộng tác với một vài tờ báo địa phương.

Hiện nay, Thầy đang nghỉ hưu và dành phần lớn thời gian nghiên cứu, sáng tác và cưng chiều cô cũng như chăn dạy các cháu.

Một đặc điểm về Thầy là dù sau thời gian khá dài, ba, bốn mươi năm không gặp nhưng Thầy có khả năng nhớ và nhận ra những  khuôn mặt trải bao sương nắng và hoàn cảnh cơ cầu của từng đứa học trò. Hơn thế, Thầy còn nhớ rõ tên, họ và ngay cả tên lót nữa.

Xin được kể về một chuyến viếng thăm Thầy của một đám bạn tôi.

Nhân một dịp họp mặt của nhóm chợ Tân Bùi, đám học trò già, (tròm trèm trên dưới sáu bó), chúng tôi xin đến thăm Thầy tại tư gia ở Toronto, Canada. Tháp tùng có ông học trò rể rắn mắt, khi nghe đặc điểm trí nhớ của Thầy, anh nảy ra ý vui vui để thử trí nhớ của Thầy nên hỏi trong lớp tụi tôi có ai lớn tuổi và hao hao giống anh không. Chúng tôi cho anh biết có anh Nguyễn Văn Hai (CN 65-68).

Khi đến nơi được Thầy đón tại ngõ, tay bắt mặt mừng, ai cũng khoanh tay cúi đầu thưa Thầy xưng con. Niềm vui khôn tả, rộn ràng tiếng cười gặp lại sau mấy mươi năm, Thầy nhận ra từng người một, điểm danh không sai sót một ai. Quay sang ông học trò rể, Thầy chấp tay, "Chào cụ" (Tuổi của ông học trò rể nầy, không già hơn thì cũng tròm trèm tuổi Thầy.)

Ông học trò rể vui tính được nước tới luôn, kêu than, "Thế là Thầy không nhớ tên con rồi. Con là Nguyễn văn Hai đây."

Với sự hồ nghi, chau mày ngó "chàng Hai", rồi Thầy quay sang ngó chúng tôi hỏi "Có phải là Hai không?" Cả đám xác quyết với Thầy đúng là anh Nguyễn văn Hai.

Nét mặt, hồ nghi, ngờ ngợ Thầy bảo, "Có phải mầy không Hai? Sao mầy già quá vậy Hai?"

Ông học trò rể quý và cả đám học trò quỹ quái của Thầy lại tái xác nhận đúng là Nguyễn Văn Hai. Lúc ấy Thầy tạm tin nhưng hàn huyên thăm hỏi từng đứa được một lúc, Thầy lại quay sang ông học trò rể, cũng với vẻ còn hồ nghi, "Có phải mầy không Hai? Sao mầy lại già thế!"

Cả đám chúng tôi đành bấm bụng chịu trận cho đến tàn buổi viếng thăm. Chia tay Thầy và đã lỡ bộ nên không ai dám thú thật. Vài hôm sau, khi Thầy có dịp nói chuyện với Sâm, cô em vợ và cũng  bạn học cùng lớp với chúng tôi, do biết chuyến thăm Thầy gồm những ai nên đã bật mí không có "Hai, Ba" gì cả mà là ông học trò rể. Chúng tôi bị Thầy rầy mắng trong yêu thương, "Chúng mầy gạt thầy, dù chúng mầy hùa nhau nhưng thầy luôn ngờ ngợ."

Cả đám học trò già đầu nhưng vẫn không bỏ được tính phá phách của thời trẻ, nói dối với Thầy chỉ để thử nghiệm trí nhớ của Thầy thôi. Quả Thầy có trí nhớ thần sầu và thật tuyệt hảo.

Thầy vẫn vậy, khá trẻ so với tuổi, rất vui tính và luôn ân cần với những người thân quen nhất là với học trò cũ. Dù chỉ ba năm dạy ở Bảo Lộc nhưng Thầy luôn gắn bó với ngành NLS, được đồng nghiệp thương quí; học trò kính mến vì sự ân cần, tận tụy cũng như tính tình hài hoà, thương yêu học trò của Thầy. Thầy đã dành cho tập thể NLS chúng ta và cho Hội cảm tình thật đặc biệt nên Thầy đã hổ trợ Hội với vai trò Giáo Sư Cố Vấn trong suốt những năm qua.  

Những lần đến thăm và được tiếp chuyện được nghe ông nhắc nhở từng nguời với tất cả sự ân cần thương mến. Về những lần gặp gỡ học trò từ thời xa xưa, do tình cờ thoáng vội, những câu trao đổi thật ngắn, thật đơn sơ bên lề đường, hay ở đầu ngõ con hẻm hun hút của đường phố Sài gòn cũng được Thầy ghi nhớ từng chi tiết dù rất nhỏ, và nằm đó chờ khi có dịp, Thầy lôi ra từ ngăn nếp trí nhớ khá mỏi mòn của mình để nhắc lại trong tình thương yêu đặc biệt mà Thầy đã cho từng đứa học trò của Thầy.
  
Tháng bảy vừa qua Thầy gởi bài viết cho Trang Nhà với lời nhắn, “Hiện Thầy đang trong thời kỳ xạ trị, viết vội, Thầy nhớ tới đâu nhắc tới đó, nhắc dùm Thầy, Thầy có bỏ sót ai không?”

Quả thật, Ông đã không bỏ sót một ai, tất cả được nhắc nhớ trong sự thương quí đặc biệt từ tâm tình tử tế nhất của Thầy.

Tôi biết tôi được sự cho phép của những người học trò Thầy, xin thay mặt anh em gởi đến Thầy lòng tri ân cho công dạy dỗ và tấm lòng son được đổ đầy bởi chân tình thầy trò mà Thầy đã cho chúng ta. Thêm một người Thầy tử tế của thế kỷ trước còn sót lại mà chúng ta được học, được gần gũi. Luôn mong Thầy Cô hạnh phúc, riêng Thầy chóng bình phục, khoẻ mạnh để còn nhiều, rất nhiều lần thăm viếng và tiếp tục nghe Thầy nhắc về chuyện cũ và tiếp tục được nhận được tâm tình đôn hậu, hiền hoà của Thầy Cô.

Vương Thế Đức
Trích Đặc San 2008