Hổm nay cùng với Hương, vợ tôi, chuẩn bị cho Đặc San NLS 2008, tôi đọc những bài viết do các thầy cô và các anh chị em NLS gởi về. Đọc tâm tình của nhiều người từ thơ đến văn xuôi đều rất có ý nghiã và cảm động, làm cho tôi hồi tưởng lại những ân tình cũ mà các bạn NLS đã dành cho tôi, cho tôi bắt nguồn cảm hứng để kể lại tâm sự chuyện đời mình.

Chuyện là như thế nầy:

Vào khoảng tháng 10 năm 1979, gia đình tôi gồm có: tôi, Hương, 2 đứa con: Luân, thường gọi là Lu, 6 tuổi và Lynh 5 tuổi, vượt biên và bị gạt lần thứ ba. Tôi và những  đàn ông khác theo người dẫn đường đi bộ trong đêm,  Hương và 2 con ngủ lại nhà dân đêm đó, để sáng sớm hôm sau sẽ theo những người buôn bán đi bằng đò đến chợ Long Xuyên và hẹn gặp lại nhau ở bến đò.

 

Hừng đông, tôi ra bến đò thấy vợ con tôi quần áo lấm đầy bùn, lếch thếch đôi chân trần do kết quả cơn mưa đêm qua làm con đường đất bùn lầy thêm trơn trợt đã làm cho họ bị ngả té nhiều lần và đã mất đi những đôi dép cao su của họ. Chúng tôi nhìn nhau nghẹn  lời và hốt hoảng vì dễ nhận ra là người dự định vượt biên. Hai đứa nhỏ đói bụng đòi ăn, khi mà xung quanh toàn là những người xa lạ. Tất cả đồ đạc chúng tôi đều bỏ lại, bỏ của chạy lấy người, dù Hương có dấu được vài chỉ vàng và vài chục đô la Mỹ, nhưng tiền VN hiện thời không còn một xu. Nếu sơ hở một chút là bị bắt về tội vượt biên ngay nên chúng tôi chỉ ngồi yên lặng bên lề đường. Tôi bão Hương chờ đợi để tôi đi tìm trường TH NLS Long Xuyên xem có ai quen nhờ giúp đỡ, nhưng trong bụng tôi cũng không biết phải đi đâu và tìm ai nữa? Giữa chợ tấp nập người qua lại ở vùng đất lạ mà tìm người quen chẳng khác nào mò kim đáy biển nhưng cứ hy vọng và tin tưởng vào sự xếp đặt của Ơn Trên.

Đang dáo dác nhìn người qua lại, bỗng có một người đàn ông quen mặt đi qua, ngoái đầu nhìn rồi quay lại vổ vai tôi hỏi “Ê Lung! có phải mầy không?” À thì ra Hưng “Đen”, Nguyễn Đình Hưng, gốc Cần Thơ học cùng lớp sư phạm NLS ban Canh Nông với Hương.

Anh nhìn chúng tôi lắc đầu và hình như anh đã hiểu ra là chúng tôi đã đi đâu và cần gì nên anh chỉ nói nhỏ “đi theo tao”.  Anh dẫn chúng tôi đi tắt qua mấy ngõ hẻm để đến tiệm bán giầy của người bên gia đình vợ anh, một gia đình người Việt gốc Hoa.  Anh nói nhỏ với bà mẹ vợ anh vài câu, bà gậ̣t đầu đồng ý và gọi chị giúp việc đưa chúng tôi vào nhà trong để tắm rửa và giặt giủ quần áo. Bà còn tặ̣ng cho chúng tôi mỗi người một đôi dép và cùng gia đình bà ăn cơm trưa với canh bầu chấm cá trê dầm nước mắm gừng. Một bữa cơm ngon tuyệt mà không bao giờ tôi có thể quên được.  Sau đó tôi kéo Hưng ra ngoài, tôi đưa cho Hưng một khâu vàng nhờ bán hộ và tỏ ý để không liên lụy đến gia đình anh chúng tôi đề nghị là sẽ ra bến xe ngủ đêm nay rồi mai về Sai Gòn sớm nhưng anh từ chối bão tôi cất đi vì còn nhiều dịp cần tới, nếu đã đến đây thì cứ để anh lo.

Lúc đó đang là thời kỳ vượt biên nên đi đường rất khó khăn, muốn đi về các tỉnh đều phải có giấy phép đi đường mới nua vé xe được. Anh có quen với một tài xế xe đò nên cứ về nhà anh ngủ đêm nay rồi sáng anh sẽ nhờ họ cho chúng tôi quá giang. Thế là sau khi no bụng, ngủ một giấc thoải mái chúng tôi đã lấy lại trạng thái bình thường đi theo anh về nhà. Vợ chồng anh đã vui vẻ tiếp đón những người khách không mời mà tới, lại còn có thể gây tai họa cho gia đình anh. Sáng hôm sau anh đưa chúng tôi lên xe còn nhét thêm một ít tiền lẻ để ăn uống dọc đường.

Từ ngày đó, tôi không còn liên lạc với Hưng nhất là sau lần vượt thoát đến xứ nầy. Tôi rất mong một ngày nào được gặp lại Hưng.  Mãi cho đến kỳ Đại Hội 4 tôi có gặp lại một số anh học TH NLS Cần Thơ, vì Hưng gốc người Huế nhưng học ở Cần Thơ, hỏi thăm tin tức mới biết là anh hiện đang ở Úc Đại Lợi. Mừng quá tôi gọi cho anh, nhắc chuyện xưa, ân tình gần 30 năm chưa có dịp được trả và ước là được làm cái gì đó để đáp lại ân tình anh giúp tôi. Anh cười và bão, “chuyện xãy ra lâu quá rồi, và không đáng gì, nên quên đi.” Tôi với anh chỉ hơn một năm trời học chung và hầu như không qua lại. Thế mà vì chỉ chút tình NLS nên anh đã không sợ liên luỵ để giúp chúng tôi qua cơn hoạn nạn, món nợ nầy làm sao tôi quên được? Món nợ nợ ân tình đó đến bao giờ tôi mới trả được đây?

Khi trở về Bình Dương với tâm trạng chán chường cuả kẻ ăn không ngồi rồi, tôi thường hay la cà ở các quán cóc uống cà phê hay lay rai vài ly rượu đế. Có một hôm tôi gặp bác trai, ba của Vương Thế Đức, ông cho tôi hay là Đức đã được định cư ở Canada và cho tôi địa chỉ. Tôi và Đức học TH NLS Bảo Lộc cùng một niên khoá nhưng không cùng lớp. Đức học ban Canh Nông chung lớp với Hương. Ở trường, Đức không uống rượu và cũng không giang hồ, lang bạt như tôi nhưng chúng tôi là bạn. Đến khi tôi đổi về dạy ở An Mỹ, không dạy cùng trường với Đức, nhưng cùng ở Bình Dương. Sau năm 1975 cùng chia sẻ buồn vui nơi trại cải tạo, cùng mang chung một tâm trạng tìm đường vượt biên sau khi ra trại nên chúng tôi là bạn tương đối khá thân. Tôi thường hay vắng nhà mà Hương vừa đi làm vừa một mình nuôi con nên đôi khi túng cùng phải đem con đến nhà nhờ má và em gái của Đức trông hộ nên gia đình chúng tôi thân nhau. 
 
Đến tháng 12 năm 1979, chúng tôi vượt biên lần thứ tư và may mắn thoát đến một làng nhỏ miền Nam Thái Lan. Vừa tới chánh quyền địa phương báo cho Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, họ đưa người đại diện đến để lấy danh sách và gởi hộ thư từ báo tin cho thân nhân của những người tỵ nạn như chúng tôi. Tôi có viết thư cho Đức nhờ báo tin cho má tôi hay.

Chúng tôi chờ cả tháng mới được đưa vào trại tỵ nạn Song Kla, vì điều kiện ăn ở thiếu thốn nên 2 đứa con tôi cảm sốt liên miên, chúng tôi chỉ mong có đủ thuốc men để lo cho chúng nhưng lúc trên biển tàu đã bị cướp ba lần, nhân mạng không bị tổn hại nhưng tất cả vốn liếng mang theo đếu mất sạch. May mắn thay! Sau khi vào trại tôi nhận được thư Đức kèm theo manda $50 US. Số tiền đó là cả gia tài cho những người khốn khổ tị nạn như tụi tôi. Với sự giúp đỡ của Đức và thân nhân mà chúng tôi mới vượt qua được những khó khăn, chờ ngày đi định cư.

Đến năm 1994 vợ chồng Đức đưa bà má qua San Jose thăm chúng tôi. Gặp lại nhau với nhiều đêm thức trắng mà chuyện kể cũng không hết được. Chúng tôi tranh nhau nói, lúc cười, lúc khóc. Riêng chuyện do má của Đức kể làm tôi ôm bà khóc như một đứa trẻ và gọi bà bằng Má. Bà nói khi nhận được điện tín của Đức báo “Lu, Lynh bình yên.” Mật mả cho biết tụi tôi đến nơi bình yên.  Bà vội vã nhờ ông chở bà lên nhà tôi để đưa cho má tôi, vì bà biết là điện tín của tôi. Ông dựng xe đứng ngoài cổng chờ, bà vào đến cửa tôi má ra đón, đọc xong điện tín má tôi òa lên khóc, mủi lòng bà cũng khóc theo. Ông thấy hai bà ôm nhau khóc, chạy vào đứng khóc luôn. Nghe bà kể lại tôi khóc là vì tôi biết má tôi khóc mừng cho tôi và cũng khóc cho bà từ đây sẽ vỉnh viển không nhìn được con, được cháu. Tôi khóc là vì từ ngày tôi đi tôi không còn gặp lại bà nữa! Tôi khóc vì tôi hối hận đã nhiều lần làm cho bà khóc. Tôi ganh tị với Đức, và muốn chia sẻ tình thương của mẹ với Đức vì chúng tôi luôn luôn là bạn thân.

Tôi là một người may mắn, tôi luôn được sự thương yêu của người thân, luôn được sự đối xử chân tình của những người bạn, được sự quí mến của thầy cô và các anh chị em trong gia đình NLS. Những ngày tháng còn lại trong đời, tôi mong được gắn liền với những những người bạn của tôi, tham dự sinh hoạt với anh em NLS vì tôi muốn lúc nào cũng được gần gủi, thân tình với mọi người và chăm sóc gia đình hầu bù đấp lại những lầm lỗi mà tôi đã làm trong quãng đời non trẻ của tuổi học trò.

Tư Lung
Những ngày cuối hè 2008
Trích Đặc San 2008