Thầy Nguyễn Văn Vũ tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn năm 1964, ban Triết  và được bổ nhiệm về trường trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc vào những năm đầu khi trường chuyển sang hệ trung học. Thay thế Thầy Bành Ngọc Quí rời nhiệm sở chuyển công tác khác, Thầy phụ trách môn Việt Văn các lớp đệ nhị cấp, đồng thời kiêm nhiệm chức Chủ Tịch Hội Đồng Hướng Dẫn và Chủ Tịch Đoàn Thanh Niên Chí Nguyện (IVS).

Trong thời gian này, Thầy được Bác Sĩ Đặng Quan Điện, Giám Đốc Nha Học Vụ Nông Lâm Súc, giao trọng trách soạn thảo chương trình Triết học cho toàn ngành Nông Lâm Súc, đây là một chương trình Triết học "mới" đã được phê chuẫn, trong đó hai bộ môn: Lao Động và Giá Trị của Lao Động - Hôn Nhân và Tình Yêu, chương trình hoàn toàn đổi mới so với nền giáo dục trung học phổ thông vào thời đó.

Những năm kế tiếp, khi cuộc chiến lan rộng và khốc liệt hơn, chương trình viện trợ của chính phủ Hoa Kỳ dành cho Việt Nam tăng theo, kể cả ngành giáo dục. Năm 1967, Thầy Vũ nhận sự vụ lệnh thuyên chuyển về Bộ Giáo Dục trong chức vụ Chủ Sự phòng Ngoại Viện 2, đặc trách lo về việc tuyển sinh, lập thủ tục để đệ trình lên Hội Đồng Du Học cứu xét qua các chương trình dành cho sinh viên du học và công chức tu nghiệp qua các chương trình của các phân ban USAID/edu và USIS/edu. Trong thời gian phụ trách, Thầy đã dành nhiều sự ưu ái cho ngành NLS, kể cả Bộ Canh Nông.

Năm 1972, tình hình chiến sự có nhiều chuyển biến cùng với sự cắt giảm của viện trợ Hoa Kỳ, Bộ Giáo Dục đã chuyển chú tâm về mặt cải cách giáo dục, Thầy lại chuyển công vụ qua một số ban nghành của Bộ Giáo Dục như Tổng Nha Trung Tiểu Học, với chức vụ Trưởng Phòng Văn Thư, Ban Thanh Tra Giáo Dục, Ban Giáo Chức và Học Sinh Vụ. Thầy cũng tham gia soạn thảo chương trình "Giáo Dục Tổng Hợp", nhằm cải biến 80 trường trung học phổ thông qua chế độ giáo dục tổng hợp theo kiểu của Mỹ, và chương trình này đã phải bỏ ngang vì sự thay đổi lớn trong cục diện chiến tranh của đất nước.

Sau năm 1975, Thầy đã trở về ngành gíáo dục qua việc giảng dậy môn Việt Văn cấp 2. Đến năm 1984, Thầy được cho nghỉ việc. Năm 1990, Thầy định cư tại Toronto, Canada, làm việc và công tác với một vài tờ báo địa phương. Hiện nay, Thầy đang nghỉ hưu và dành phần lớn thời gian nghiên cứu và sáng tác.

Một đặc điểm về Thầy là dù sau thời gian khá dài, ba, bốn mươi năm không gặp nhưng Thầy có khả năng nhớ và nhận ra những khuôn mặt trãi bao nắng sương, thời gian và hoàn cảnh cơ cầu của từng đứa học trò. Hơn thế, Thầy còn nhớ rõ tên, họ và ngay cả tên lót nữa.

Xin được kể về một chuyến viếng thăm Thầy khá vui vui. Nhân một dịp họp mặt của một nhóm bạn, đám học trò già (trồm trèm trên dưói sáu bó), chúng tôi xin đến thăm Thầy tại tư gia ở Toronto, Canada. Tháp tùng có ông học trò rể rắn mắt, khi nghe đặc điểm trí nhớ của Thầy, anh nảy ra ý vui nên hỏi chúng tôi, trong lớp tụi tôi có ai lớn tuổi và hao giống anh thì chúng tôi cho anh biết có anh Nguyễn văn Hai (CN 65-68).

Khi đến nơi, tay bắt mặt mừng, ai cũng khoanh tay cúi đầu thưa Thầy xưng con. Thật vui mừng, Thầy nhận ra từng người một, điểm danh không sai sót một ai. Quay sang ông học trò rể, Thầy chấp tay: "Chào cụ" (vì tuổi của ông học trò rể nầy không già hơn thì cũng chỉ kém tuổi Thầy một vài năm.)

Ông học trò rể vui tính được nước tới luôn, kêu than: "Thế là Thầy không nhớ tên con rồi. Con là Nguyễn văn Hai đây"

Với sự hồ nghi, Thầy quay sang hỏi chúng tôi có phải là Hai không?  Cả đám chúng tôi ai cũng xác quyết với Thầy đúng là anh Nguyễn văn Hai.

 Trong ngờ ngợ Thầy bảo: "Có phải mầy không Hai? Sao mầy già quá vậy Hai?"

Ông học trò rể quý và cả đám học trò quỹ quái của Thầy lại tái xác nhận đúng là Nguyễn văn Hai. Lúc ấy Thầy tạm tin. Hàn huyên thăm hỏi được một lúc, Thầy lại quay sang ông học trò rể, cũng với vẻ còn hồ nghi: "Có phải mầy không Hai? Sao mầy lại già thế?"

Cả đám chúng tôi đành bấm bụng cho đến tàn buổi viếng thăm. Chia tay Thầy và đã lỡ bộ nên không ai dám thú thật. Vài hôm sau, khi Thầy có dịp trao đổi với cô em vợ, vốn bạn học cùng lớp với chúng tôi, cô vốn biết chuyến thăm Thầy gồm những ai và cô bật mí nên sau đó chúng tôi bị Thầy rầy mắng trong yêu thương: "Chúng mầy gạt thầy, dù chúng mầy hùa nhau nhưng thầy luôn ngờ ngợ."

Cả đám học trò già đầu nhưng vẫn không bỏ được tính phá phách của thời trẻ, nói dối Thầy chỉ để thử nghiệm trí nhớ của Thầy. Quả Thầy có trí nhớ thần sầu và thật tuyệt hảo.

Thầy vẫn vậy, rất trẻ so với tuổi, rất vui tính và luôn ân cần với những người thân quen nhất là với học trò cũ. Dù chỉ ba năm dạy ở Bảo Lộc nhưng Thầy luôn gắn bó với ngành NLS, được đồng nghiệp thương quí; học trò kính mến vì sự ân cần, tận tụy cũng như tính tình hài hoà, thương yêu học trò của Thầy. Thầy đã dành cho tập thể NLS chúng ta và cho Hội cảm tình thật đặc biệt nên Thầy hổ trợ Hội với vai trò Giáo Sư Cố Vấn trong suốt những năm qua. (Trang Nhà

 

 

Đao Học Con Đường Phò Sinh

Capra sai lầm khi ông nhận xét về Đao Học: "Đạo Học là con đường giải thoát ta khỏi thế giới tục lụy này "Ý tưởng giải thoát  như thế rất xa lạ trong truyền thống văn hóa Trung Hoa, mãi đến khi các vị cao tăng Phật giáo từ Ấn độ đến đây truyền bá đạo Phật, khỏang hai ngàn năm về trước, người Hoa mới tiếp nhận tư tưởng "giải thoát ", coi cuộc đời là "bể khổ" bến mê, mới cổ võ diệt dục. Đến Trung Hoa, đạo Phật thêm vào những giá trị vốn có, hai tinh thần mới: AN BẦN LẠC ĐẠO (Simplicity and tranquility), nguồn gốc phát sinh ra THiỀN phái, pha trộn tinh thần Lão học và Phật học.

Đạo là con đường phò sinh cổ võ sự sống và Dưỡng Sinh. Đạo cổ võ phép châm cứu, phổ biến khuyến khích phép dưỡng sinh rất mạnh mẽ, nghiên cứu và phổ biến phép luyện đan, ngoại đan và nội đan, kiếm tìm và chế tác thuốc trường sinh cũng như thuốc trị bệnh tật, phổ biến Thái Cực Quyền, vệ sinh ẩm thực, luyện khí công để mọi người sống cuộc đời ‘Hồn mạnh trong thân xác  cường tráng (mens sana in corpore sano).Tác phẩm Đao Học và Tình Yêu (The Tao of Love) của Jolan Chang có thể tóm lược nội dung thế này: Làm tình hay huỷ diệt (Copolate or Perish) nghệ thuật bế tinh trong Đạo Học cũng góp phần tăng thêm khoái lạ thể chất và thư giãn tinh thần. Đạo học giúp cho sinh hoạt tình dục năng động hơn, sinh thú hơn. Trường phái Tantric (Tantric School/Temple) phổ biến những phương pháp làm tình hữu hiệu dựa trên tinh thần Đạo Học. Đạo học tán thưởng những lạc thú khác: Cầm, Kỳ, Thi, Tửu:

Đường ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay
Đàn năm cung réo rắt tính tình dây,
Cờ đôi nước rập rình xe ngựa đó
Thơ một túi phẩm đế câu nguyệt lộ
Rượu ba chung tiêu sái cuộc yên hà,
Thú xuất trần, tiên vẫn là ta
Sánh Hoàng Thạch Xích Tùng ờ cũng đáng,
Cầm tứ tiêu nhiên kỳ tứ sảng, 
Trầm tư bách kế bất như nhàn
Dưới Thiều quang thấp thoáng bóng nam san
Ngoảnh mặt lại cửu hoàn coi cũng nhỏ
Thuở trời đất cổ kim kim cổ
Mảnh hình hài không có có không
Lọ là thiên tứ vạn chung.

(Nguyễn công Trứ/ Cầm Kỳ Thi Tửu )

Đạo học mưu tìm hạnh phúc cho con người toàn diện, trọn vẹn cả thể xác lẫn tâm hồn, không phân biệt trần gian hay tiên cảnh,  Lưu Thần, Nguyễn Triệu lên tiên chung hưởng hạnh phúc xác thịt  với tiên nữ, trong Bích Câu Kỳ Ngộ, Giáng Kiều  chung hưởng lạc thú xác thịt với ngưòi trần Tú Uyên :

Dời đèn rũ khúc màn thêu
Lò nghê thêm xạ, thêm khêu gợi tình
Cầm đội tay ngọc trắng xinh,
Vui vào trướng gấm thêu hình năm hoa.
Thân mềm yểu điệu thật là
Gió tình đẩy động thổi đà xiêu xiêu
Thẹn thùng cúi mặt yêu kiều
Ánh hồng ửng má, áo điều lìa tay
Ngọc ngà trong trắng nào tầy
Nhà vàng giuờng bản thân này xứng nên
Mấy đời sánh mặt người tiên
 Vóc này đâu thấy ở miền trần ai.

(Bich Câu Kỷ Ngộ)

Ngày nay người ta khó có thể chấp nhận những phán đóan đao to búa lớn một thới cực thịnh trong các nước xã hội chủ nghĩa rằng: "những nền văn minh lớn đang bị giải thể như những chế độ độc tài phong kiến Đông Phương. Những thành tựu của nền văn minh này chẳng qua là những thành quả phục vụ giai cấp thống trị mà thôi."

Quả thật, quá khứ có những nhược điểm đáng chê trách. Nhưng cũng đáng lên án nữa, là  thái độ chỉ trich lên án quá đáng, thiếu khách quan, trong khi lại làm ngơ những khuyết tật của chính mình. Chiến thuật đánh phá của các "cán bộ mạng" phản ánh rõ nét nhất lề thói này. Ngược lại một nhóm cực hữu quá khich cũng vận dụng "văn hóa chửi" để mạt sát đối phưong tàn tệ không kém. Riêng đối với Đạo học phải đánh giá thế nào khi ngày nay xã hội đang tìm về phương pháp châm cứu, dưỡng sinh, thiền, xã hội đang tìm về tinh thần bao dung, tha thứ, thông cảm, những món đặc sản của Đạo Học?

Đao Học, Một Triết Thuyết Siêu Hình

Chủ trương TÍNH TƯƠNG ĐỐI và BIẾN ĐỘNG của vạn vật, Đao Triết không đại ngôn, không dự phóng tương lai, không đưa ra những phán đoán khẳng định đúng sai. Đạo chỉ đề ra những khuyến nghị, mà không truyền MỆNH LỆNH, không ra nghi quyết, "ĐÚNG" như đanh đóng cột, rằng thế này, rằng thế nọ, rằng "nhất đinh..", đòi hỏi mọi người cứ thế mà thi hành. Đao để mặc cho LƯƠNG TÂM (good sense) mỗi cá nhân, tự quyết định lấy cho chính mình. Đạo không chủ trương có MỘT CHỦ THỂ nào có quyền áp đặt mệnh lệnh lên cá nhân cả thiêng liêng lẫn vật chất. Đạo không xác định giá trị tuyệt đối và trường cửu của định lý hay định thức, nên không chủ trương nhồi nhét giáo dục những gì được coi là khuôn vàng thước ngọc, là vĩnh cửu. Ngày nay, nhà nước XHCNVN tìm bới Tư Tưởng của lãnh tụ hầu đem nhồi nhét, gọi là Giáo dục; Đem tư tưởng hành động của một con người, o ép hàng chục triệu người răm rắp noi theo là độc tài, ap bức trái với tinh thần và truyền thống Đạo học. ĐẠO không tìm kiếm người mẫu theo cung cách người mẫu XHCN, không nặn ra chiến sĩ thi đua, anh hùng lao động, gia đình có công, gia đình phản động. Đạo không đặt lên bệ thờ những mẫu người như thế.

Khuyến nghị của ĐẠO mang hình thức tục ngữ, ca dao, cách ngôn, rất gần gũi thân thương với đại chúng, tàng chứa điều khôn ngoan của người xưa hơn là những mệnh lệnh, mặc khải của thần thánh. Nó không phải là mặc khải tiếp thu được từ thế giới Thiêng Liêng qua trung gian của các đấng tiên tri như kiểu "Mười Điều Răn Đức Chúa Trời " do Moise lãnh nhận từ đấng JEOHVA  xuống truyền dạy dân Do Thái. Dù tán thành hay không những khuyến nghị của ĐẠO, thì những khuyến nghị này cũng vẫn là thành phần kho báu tinh anh nhất của loài người. Kế thừa kho báu này, không ai khác có thể am tường, am hiểu nền văn hóa Trung Hoa: triết học, văn học, Tôn Giáo chính trị, hành chánh, nghệ thuật, y dược và cả nghệ thuật ẩm thực nữa mà không hay biết và cảm phục triết lý thâm sâu trong ĐẠO ĐỨC KINH.

Đạo học không mang tính nhân bản theo nghĩa lấy con người làm trọng tâm (như trong xã hội Tây phương). Đạo quan niệm rằng vũ trụ là một tổng thể, đời sống là một tổng thể. Tính vũ trụ, tính phổ quát "Thiên Địa Vạn Vật Nhất Thể"  vượt cao hơn, bao trùm hơn tính nhân bản.

Đạo Học Chấp Nhận Sự Bất Toàn Trong Cuộc Sống

Marx chịu ảnh hưởng nhóm triết gia xây dựng trường phái cổ điển Hy lạp, đã thêu dệt biện chứng của Heraclite thành một lý thuyết vạn năng, mà theo ông có khả năng giải đáp được mọi vấn đề, từ tổng quát đến đặc thù chi tiết chi li. Đạo học không có cái tham vọng ấy. Biện chứng Đạo Học là một tiến trình tư duy và một phương pháp thực hiện mà các nhà Đạo Học tin là một thích ứng hoà hợp (attunement) vào tiến trình tự nhiên trong vũ trụ, giống như sự điều chỉnh máy thu thanh dể tiếp thu các chương trình phát thanh khác nhau vào máy nghe...Tiến trình này được coi là một năng lực tự nhiên. Ta có thể tác động ngược chiều với tiến trình tự nhiên, nhưng là chuyện khó khăn vất vả, giống như là chuyện ta tìm cách phá một làn sóng phát thanh phát hình, quậy phá một website (của nhóm tin tặc). Trong quan điểm Marxiste vế xã hội loài người, tiến trình của sự mâu thuẫn có thể ngưng lại, chấm dứt khi nào đạt tới đỉnh điểm, đạt tới xã hội hoàn chỉnh, không còn người bóc lột người, đạt tới chế độ cộng sản... Đạo học coi lối tư duy như thế là không tưởng, phiến diện, lạc quan tếu, hay đúng ra là điên khùng, một giả định có ánh sáng mà không có bóng tối. Đạo học chấp nhận những cái bất toàn trong thế giới này, cố gắng để sống chung với cái bất toàn ấy, hạn chế những mặt tiêu cực của nó mà thôi. Cuộc đời có đau khổ cũng như có nhiều khoái lạc, sinh thú đáng sống và thụ hưởng. Thế kỷ thứ XX đã được nếm trải những tư duy không tưởng cùa Marx , được Lenin, Mao trạch Dông và Hồ chí Minh, vận dụng đem ra thực hiện, nhằm tiến nhanh tiến mạnh, tiến vũng chắc, lên chủ nghĩa xã hội, khiến cho xã hội trở thành man rợ, đẫm máu khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người, mà chẳng tiêu diệt được lực đối kháng nào,lại là mầm mống sản sinh ra hàng triệu những đối kháng mới, kiểu trăm hoa đua nở trên các diễn đàn điện tử ngày nay ..Theo quan điểm của ĐẠO, hậu quả tai hại khủng khiếp ấy phát xuất từ não trạng coi sự vật có tính đối kháng triệt để, không thể khoan nhựợng dung hợp được với nhau, vì thế người Marxiste bị thúc đẩy theo đuổi những chính sách cực đoan càng rốt ráo triẽt để càng tốt. Điều 4 Hiến Pháp CHXHCN là một điển hình, cho đến nay, khi chế độ toàn trị đã đổ nát thành đống vụn hổ lốn, người ta vẩn níu kéo để vực dậy tính cực đoan kia càng nhiều càng tốt, dưới nhiều dạng thức khác nhau. Trong lãnh vực truyền thông điện tử chẳng hạn, tại nội địa thì ra sức ngăn cấm, tại hải ngoại thì lập đội xung kích lăn xả vào tấn công, triệt hạ bằng những thủ thuật đê tiện nhất, tục tĩu, phá họai, trây cối không một kiểu gì triệt hạ được mà họ không làm. Phải gọi đây là thứ "cách mạng vô sản đỏ bằng bạo lực" trong lãnh vực tin hoc, khiến cho những người muốn đối thoại phải ngán ngẩm bỏ đi.

ĐẠO thì e dè, xa lánh những tiến trình, cung cách rốt ráo như thế, ĐẠO chủ trương cai trị ít chừng nào tốt chừng đó, cơ cấu tổ chức, luật lệ ít chừng nào hay chừng đó. Đường hưóng này ĐẠO gọi là VÔ VI (the methode of NON ACTION). ĐẠO tin vào tiến trình tự nhiên bao gồm cả bản chất tự nhiên của con người. Quan điểm này cũng có vẻ hao hao giống quan niệm VÔ CHÍNH PHỦ (anarchisme) ở Âu Châu .Nhưng học thuyết vô chính phủ thì chấp nhận bạo động dù là bạo động cách mạng.còn ĐẠO học thì không chấp nhận.

Đạo Học và Quyền Lực Quản Trị

ĐẠO học cũng không khờ khạo đến độ tin rằng xã hội quần chúng (mass society) có thể hoạt động được mà không cần đến cơ cấu tổ chức chính quyền.Trung quốc đã hình thành một hình thức cơ cấu tổ chức xã hội tự nhiều năm trước khi Lão Tử xuất hiện. Những CHÂM NGÔN của Đạo Đức Kinh không những được dành cho lớp nhân dân bị trị, mà theo nhiều học giả, ĐẠO trước hết nhắm vào giai cấp thống trị, đang nắm quyền hành của một quốc gia đang nghiêng ngửa. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, phần lớn chủ trương của ĐẠO về mặt chính trị, chủ trương lấy "VÔ LỰC" mà đối phó, giải quyết vấn đề trong nước, gọi là VÔ VI. Trong tác phẩm The TAO of Power (Đạo Học của Quyền Lực), R.I.Wing cho rằng ĐạO khai thác năng lực tiềm ẩn trong mỗi cá nhân thứ quyền lực từ đáy mà nâng lên. Còn bá đạo của Machiavel thừ khai thác thứ quyền lực từ đỉnh trên mà đè xuống. Khổng giáo là thứ triết học chính trị chuyên chế (authoritarisme) của những nhà cai trị nhân hậu (NHÂN TRỊ). Dù sao, xét về mặt chính trị, ĐẠO TRIẾT cũng là CON ĐƯỜNG THẤP (low road), không lộ rõ, cộng sinh với Khổng học chi phối toàn thể nhũng xã hội Trung Hoa, Việt Nam và Nhật Bản, Đại Hàn từ bao nhiêu đời. "Đem Đại Nghĩa để thắng hung tàn, lấy Chí Nhân thay cho thù hận ". Lại thật đáng tiếc, Chủ nghĩa Cộng Sản được Hồ chí Minh và tập đòan không theo con đường ấy, mà chủ trương bạo động cách mạng "Đào Tận Gốc, Trốc Tận Rễ", chiến thắng rồi thì cải tạo, đánh tư sản, kinh tế mới, xua đuổi, trục xuất khỏi quê hương, ngăn sông cách chợ, xua đuổi sinh viên có đạo, có xin xuất cảnh khỏi các ngành học, nghiễm nhiên chễm chệ ngồi trên đầu trên cổ thiên hạ khiến xã hội điêu đứng hết đường sống, ba muơi năm có lẻ vẫn cứ thế ... Con đường kinh tế XHCN làm tiêu tan mọi tiềm lực phát triển đất nước một thời gian quá lâu dài, đến nay còn đang ngất ngư. John Craig khi phân tích tính mềm dẻo uyển chuyển của công tác soạn thảo kế hoạch và hệ thống và hệ thống sản xuất thành công của nhật bản đã nhìn thấy trong đó có những phương pháp biện chứng rút ra từ Thiền Hoc, nghĩa là gián tiếp từ Đạo Học.

Dù bản chất bình hòa, ĐẠO HỌC cũng còn được vận dụng trong vỏ nghệ: Nhu Đạo và cả trong Binh Nghiệp nữa. TônTử trong TônTử Binh Pháp viết thế này :

-Khi quân địch chiếm điểm cao thì không được tấn công

-Khi quân địch dựa vào sườn điểm cao, thì không được tấn công

-Khi quân địch giả vờ thua chạy thì không được đuồi

-Khi nhuệ khí địch đang hăng thì không được tấn công

-Khi bao vây quân địch, thì cần tạo ra một khe hở, không nên dồn ép địch vào thế phá sản.

Như vậy, thế đánh ấy làm cho địch thua, mà không nhằm tuyệt diệt.

Đánh tan quân xâm lược, các danh tướng nước ta thuở xưa còn cấp lương thực thuyền bè cho địch hồi hương, sau đó cử phái đoàn sang cầu hoà, hữu nghị. Các lãnh tụ Cộng sản Việt nam thì khác, lúc nào cũng dương cao ngọn cờ chiến thắng "AI THẮNG AI", Leo hết đỉnh cao này, lộn sang đỉnh cao khác, đến lúc mắc kẹt không sao xuống được nữa vẫn còn tiếp tục ngồi trên đỉnh cao, miệng tiếp tục hô khẩu hiệu,y hết như giống  đười ươi, nắm được tay người thì ngửa mặt lên cười hỉ hả đến khi mặt trời lặn bóng, người đã vượt ồng nứa chuồn khỏi tự bao giờ ... Điển hình cho loài đười ươi này, là Tô Hữu, làm bại họai văn học và kinh tế: Bão Thanh Hóa không bằng giá Lương Tiền, Phó thủ tướng đặc trách Kinh Tế, đã tạo ra cơn bão giá lương tiền. Hiệp sĩ Don Quichote là một nhân vật ảo của Cervantes, đi trừ bạo an dân, chém hết cối xay lúa đến đoàn binh lợn, làm cho người đọc phải phì cười. Lê Duẫn, Đỗ Mười lại là con người thật, vận dụng giá trị ảo, tận dụng bạo lực  tiêu diệt bao nhiêu sinh linh, tài sản tinh thần và vật chất, dồn xã hội vào kiếp cùng khổ chết chóc đầy máu và nước mắt, kinh hoàng.

Xét về mặt kinh tế, từ Đạo Triết người ta rút ra được con đường phát triển :

-Không cạnh tranh chính diện vời những doanh nghiệp lớn mạnh hơn mình.

-Không cạnh tranh lâu dài với những xí nghiệp có tiềm lực lớn.

-Khi chưa hiểu rõ địch thủ thì không  nên vội manh động.

Nhưng nhũng nguyên lý đưa đến thắng lợi trong cạnh tranh thương trường kia  đã chẳng được các nhà kinh tế Cộng sản biết đến, họ lật Marx ra, «Tư bản là đồ ăn cướp», vậy thì ta phải dựt lại để trả về túi ta. Mọi thứ «tư bản ăn cướp» kia, đương nhiên tư bản trong tay tư nhân , nay thì trở thành tư bản trong túi ông cộng sản cha, ông, bà cộng sản con, cô cậu cộng sản chắt, hỉ hả hợp thức hoá «Người cộng sản có quyền làm kinh tế tư nhân», đồ ăn cướp hôm xưa lọt vào túi ông bà tư bản đỏ ngày nay, «thắng nợi » này vẻ vang quá đi ấy «chứ nị », các đồng chí ạ!! ÂM DƯƠNG vẫn còn đó, không sao tiệu diệt được, những con người bị đẩy ra biển cả lại hồi sinh từ đồng đất nước người, đang sống dậy mạnh mẽ, trở thành thế lực đối kháng tự nhiên mới theo biện chứng âm dương, âm thịnh thì dương suy, thế thô, chẳng thể nào toàn âm hay toàn dương được. Âm dương ở thế quân bình thì hoà, âm dương bất bình thì biến, cùng tắc biến, biến tắc thông, không thể loại trừ nhau được.

Tư Duy Theo Đưòng Thẳng

Văn hóaTây Phương lấy định luật triệt tam của Aristote  làm trọng.Luật này khẳng định rằng một mệnh đề hoặc đúng hoặc sai, không thể lưng chừng vừa đúng vừa sai,như vậy không có mệnh đề lưõng giá (ambivalente).Thứ luận lý triệt tam ăn sâu bén rễ vào những tư duy theo đường thẳng (linear thought patterns) chẳng hạn người Thiên Chúa Giáo quan niệm lịch sử là một tiến trình liên tục của ơn cứu độ đi đến giải đáp chung cuộc: cuộc đời của cá nhân từ lúc SINH RA đến khi đi lên THIÊN ĐÀNG/xuống HỎA NGỤC  như sau:

SINH - TRƯỞNG THÀNH - GIÀ

CHẾT - THIÊNĐƯỜNG/HỎA NGỤC                       

Thế là hết không có vị thế nào  cho sự quay vòng, có chuyển kiếp như ta thường gặp trong các truyền thống của các bộ lạcvà các dân tộc Á Đông.

Triết học Duy Tâm của Hegel hay biện chứng Duy Vật của Marx cũng vậy, cả hai đều nhìn tiến trình lịch sử theo theo đường thẳng.Thuyết xã hội biến hóa dù không thuộc hệ Marxiste cũng đặt nền tảng vào sự tiến triển liên tục không thể đảo ngược. Ngay cả đến công luận  trong xã hội Tây Phương cùng hình thành theo theo tuyến đường thẳng một chiều  từ BẢO THỦàTỰ DOàTIẾN BỘ. Trong lảnh vực khoa học cũng vậy, khoa học được quan niệm như là một quá trình liên tục với những khám phá mới này được xây dựng trên những khám phá cũ kia.

Đành rằng trong thực tế biểu mẫu tư duy theo đường thẳng có mặt giải quyết được vô số vấn đề trong cuộc sống, nhưng  còn có biểu mẫu quay vòng nữa chứ? Thái độ BA PHẢI, giải pháp nửa vời, vàng thau lẫn lộn vẫn tồn tại trong mọi vấn đề cuả cuộc sống. Những nghị quyết một chiều «không thể đảo ngược được», nếu là điều kiện hữu hiệu đốc thúc toàn dân tiến tới mục tiêu, thì nó cũng có thể trở thành một lực cản rất tai hại, gây ách tắc cho tòan thể xã hội. Chẳng hạn nghị quyết đem quân xâm lược Campuchia của nhà lãnh đạo Công Sản Việt Nam, được phổ biến là «không thể đảo ngược được» đã tiêu hao không biết bao nhiêu là sức người sức của mà chẳng thành đạt được thành quả nhỏ nhoi nào, lại còn chuốc họa bị Trung Quốc tấn công «dạy cho Việt Nam một bài học». Nếu biết vận dụng nguyên lý phản phục, biết nhìn nhận lẽ tương đối của vạn vật  thì đã tránh được bao nhiêu thảm họa cho dân tộc VIệt Nam.Tình thế dung hợp các đối cực vẫn là đường lối khôn ngoan.

Pháp Lý Trong Xã Hội Tây Phương =/= Đạo Học

Trên lý thuyết, các luật gia cổ võ « công lý cho mọi người »

Trong thực tế,luật pháp dường như giống như trò xổ số, trúng đấy mà trật đấy. Chẳng hạn, nhân danh luật pháp, nhiều trường hợp được xét xử công bằng, nhưng cũng không thiếu những người bị luật pháp bỏ tù oan. Nhân danh luât pháp, người có quyền lực giam nhốt giết hai những ngưòi không được ưa chuộng, những thù nghịch tùy theo luật lệ và vận dụng của quan toà, thực tế có rất khác, biết bao nhiêu trường hợp « được làm vua, thua làm giăc » xảy ra do phán quyết của toà nhân danh luật pháp.

Đạo Triết nhìn sự vât có hai mặt SẤP NGỬA, biến động uyển chuyển, khuyến dụ con người sống phù hợp với những biến đổi của Thiên Nhiên, của thực tế khách quan bên ngoài. Đạo Triết nhận rõ tính phân cực bổ sung của mỗi sự vật. Đao Triết không tìm cách áp đặt  hệ thống tư duy  cuả mình lên đầu lên cổ người khác, ĐẠO không vận dụng biến đổi lối tư duy của mình thành những pháp lệnh, giáo điều cứng nhắc chi phối toàn xã hội. Chẳng hạn ĐẠO nhìn nhận đồng tính luyến ái NAM-NAM, NỮ-NỮ là trường hợp BẤT THƯỜNG (anormalie) nhưng lại  không tìm cách ngăn chận, mà chủ trương dành quyền quyết định cho lương tâm của mỗi cá nhân, tự do lựa chọn.

Đạo Triết Mở Ngỏ Tranh Luận

Đạo triết mở ngỏ tranh luận, sống mà không xác quyết là một phần trong đạo VÔ VI. Trong lãnh vực nghiên cứu khoa học ngày nay Karl Popper nói: «Trừ phi một mệnh đề đã bị chứng minh là sai, đã bị phản chứng, thì nó không thể đúng». Trong xã hội Tây phương thì quan niệm rằng: một mệnh đề bị coi là sai lạc trừ phi nó được chứng minh là đúng. Quan điểm cứng nhắc đa nghi này  đẵ được tín nhiệm từ rất lâu trong quá khứ và cả ngày nay nữa. Người ta tin rằng bản chất của sự vật đã được hay phải được xác lập thẩm định theo tiêu chuẩn đã được xác lập BẠN  x THÙ, ĐỊCH x TA. Ngưòi Công Sản thường dùng từ ĐỐNG CHÍ trong cách xưng hô. Sau 30/4/1975 vào chiếm Saigon, dân chúng tưởng đâu cách xưng hô như thế là phổ biến, lầm rồi đó, các đồng chí chỉnh ngay: chưa biết lập trường của anh/chị, tôi không đồng chí với anh/chị.  Thế là phe nhân dân tiu nghỉu. Một buổi học tập chính trị dành cho nhân viên bộ Giáo Dục cũ tại trung tâm văn hóa Goethes (Đức) ở Saigon, đồng chí chính ủy cấp cao lớn tiếng lên án Goethes là tên phản động làm tay sai cho đế quốc tư bản! Có lẽ là Đảng ta chưa kịp xác minh lý lịch và phổ biến cho cán bộ ta  nguồn gốc tên phản bội này, nên đồng chí ta cứ nguyên tắc mà nàm việc. Những bài phê bình của đại học giả Trần trong Đăng Đàn đao to búa lón, nhân danh chủ nghĩa xã hội phỉ báng văn học và nghệ sĩ miền nam khủng khiếp đến chừng nào, ngài chẳng cần gì phải đọc phải xem, cứ thế mà nàm, nhắm mắt mà chửi, thẳng tay mà trừng tri, Đảng đã kịp thời biết mặt, biết đến nôi dung giá tri thực của đám người này đâu? Mà có đọc, có tiếp xúc, thì liệu ông cán bộ câp cao này đủ sức tiếp thu tư tưởng học thuật của họ chăng? Chỉ vọn vẹn mấy khẩu hiệu Marx mà hô, thì hiểu được ai, hiểu được cái giá trị nào? Một buổi hoc tập khác, cán bộ giảng huấn phùng mang trợn mỏ «Khổng Tử là con người vô văn hóa » khiến mọi người chưng hửng. Chả là vào thời điểm đó Trung Quốc phát động phong trào Cách Mạng Văn Hóa, đồng chí ta nghe đài, thuổng được khẩu hiệu của cán bộ cách mạng văn hóaTrung Quốc thế là cứ việc líu lo, chẳng cần biết cụ Khổng là ai, vô văn hóa như thế nào!!  Thôi thì cũng là những mẩu chuyện tiếu lâm thời đại mới mở màn cho XHCN ở miền Nam.

Mở ngỏ cuộc tranh luận, bàn thảo là cách nhìn nhận giới hạn của kiến thức con người. Đây không phải là chủ thuyết duy ngã (solipism) phi lý (absurdity) hay thuyết tương đối (relativism) mà chỉ là thái độ khôn ngoan thận trọng. Ta không cần thay đổi ngôn từ, thêm tỷ lệ sác suất vào mỗi câu, mỗi mệnh đề hay trở thành người ba phải, bất nhất đến nỗi không thực hiện được những việc thông thường hằng ngày chỉ vì áp lực của tính bất ổn (uncertainty). Nhưng nó phải kìm hãm ta  không được xác quyết bừa bãi, thiếu thận trọng.Tính bừa bãi, nhắm mắt mà chửi ngày nay vẫn còn là thủ thuật tấn công của các ông công an mạng, vài lần là nhận diện được ngay, dù có khéo léo ngụy trang, hay thô lỗ huych toẹt.

 

Biểu Mẫu Xã Hội

Biểu mẫu xã hội của Platon mô tả trong La Republique (nhà nước Cộng Hòa) cũng góp phần làm xơ cứng óc sáng tạo của xã hội Tây Phương. Phong Trào Xã Hội (Cộng sản) dựa trên thuyết  Marx đưa ra lời kêu gọi « Anh em lao Động trên Thế Giới hãy đoàn kết lại. Các bạn chẳng có gì để mất cả, ngoài những xiềng xích ».  Ít nổi tiếng hơn cái xiềng xích của Marx, trong phần mở đầu cuốn Xã Ước (contrat Social) J.J. Rousseau, cha đẻ cuộc cách mạng tư sản Pháp viết: « Mọi người sinh ra đều tự do » nhưng mọi nơi, mọi đời đều thấy đầy dẫy những xiềng xích. Tiếc thay, câu nói trên chỉ là thứ khích động bịp bợm. Trong La Confession(Thú nhận) Rousseau nhận rằng ông đã bỏ 5 đứa con ruột vào viện mồ côi, tùng đứa một ngày sau khi cất tiếng chào đời, mà chẳng bao giờ đoái hoài tìm đến xem mặt chúng lấy một lần nũa, chỉ duy có đứa con đầu lòng ông còn kịp đặt tên . . Nhũng đứa sau, chẳng đứa nào được cha ban cho một cái tên để gọi. Như vậy chúng thật sinh ra là «Tự Do ». Sự thực, chẳng ai sinh ra là tự do, mọi ngưòi đều sinh ra trong những tình huống đặc thù mà mình chẳng hề được lựa chọn. Rousseau biện minh cho hành động bất nhân của ông như thế này: «  Khi trao phó các con tôi cho Nhà Nước,tôi đã nghĩ rằng tôi hành động như một công dân và một người cha. Tôi tự coi mình là thành phần của nhà nước Cộng Hòa của Platon »Bạn nghĩ xem.

Và các con ông đã bị ném vào viện mồ côi, các con ông ta sẽ là những  người công dân lý tưởng. Viện mồ côi là nhà nước cộng hoà lý tưởng. Rousseau có phải là kẻ mộng du không ? Cung cách hành xử của Rousseau, nhân danh nhà nước lý tưởng của Platon, chính là bản cáo trạng biểu mẫu nhà nước lý tưởng kiểu Platon  sống động và gay gắt nhất, Marx dự kiến rằng nhà nước vô sản (Proletariat State) là một công trình thể hiện biểu mẫu Cộng Hoà kiểu Platon đã được Rousseau phác họa những nét chính trong Xã Ước (contrat social). Luật lệ xã hội  có lẽ được hình thành trong Xã Ước không phải phát sinh từ thực tại của cuộc sống của giai cấp công nhân mà do những đầu óc tưởng tượng phong phú lãng mạn, siêu thực của lớp trí thức khoa bảng, chính khách salon  như Rousseau nã nặn ra.

Nhìn vào Đạo học, chắc chắn ta sẽ nhận ra rằng ĐẠO không bao giờ đưa ra một biểu mẫu xã hội chà đạp con người đến thế, Đạo không tin vào cái lý huyễn hoặc, Đạo là VÔ VI, hạn chế những can thiệp không cần thiết, đề con người có thể phát triển tự do, theo thiên nhiên, theo thực tế khách quan, theo sự lựa chọn của chính mình.

Hình Ảnh Thượng Đế và Tôn Giáo

Đạo Triết không đề cập tới một vị Thượng Đế có nhân tính, có tình cảm như con người, có yêu có ghét, có thưởng có phạt. ĐẠO nhìn nhận có những con người muốn làm điều ác , nhưng ta có thể nói rằng ngay cả những kẻ gian ác nhất, cũng có ít nhiều phẩm tính tốt, thiện hảo. Vũ trụ quan ngày nay dành chỗ cho cả trật tự lẩn hỗn loạn .Nhưng không có vị trí nào dành cho đối cực đối kháng triệt để, một bên là THIỆN TUYỆT ĐỐI và một bên là ÁC TUYỆT ĐỐI, đối kháng đấu tranh quyết liệt để loại trừ nhau. Truyện Kiếm Hiệp của Kim Dung là điển hình minh họa cho  vũ trụ quan này.

Sự chết và đau khổ vẫn tồn tại trong cuộc sống, mặc dầu cố gắng đến đâu nó vẫn còn đó, có sinh thì có tử, nó là thành tố không thể tránh được, chẳng phải chỉ riêng cho con người mà đối với vạn vật cũng thế thôi, không có TỬ thì chẳng có SINH.

Tư tưởng Đông Phương trong đó có ĐẠO HỌC không nâng cấp sự sợ hãi ma quỷ triệt để như trong xã hội Tây Phương. Đông Phương coi ma quỉ cũng có số phận đau thương như loài người, và có lẽ con người cũng có khả năng giúp đỡ ma quỷ thoát khỏi cảnh tù đầy nữa là khác. Thái độ MỞ NGỎ của Đông Phương ngay cả với ma quỷ nữa khiến ta phải suy nghĩ.

Triết Đạo còn chủ trương một điều khác đáng lưu ý:Thần Thánh chỉ là một biểu tương của một nguyên lý duy nhất: ĐẠO.

 

Nguyễn Văn Vũ

Toronto, 10-2-2007

 ĐẠO HỌC và TÍNH HIỆN ĐẠI

 

Theo Đạo Đức Kinh, Đạo không thể diễn tả được, không biểu hiện được, chỉ có thể cảm nghiệm hay trực giác được mà thôi.

Biện Chứng Đạo Học: Phân Cực Bổ Sung

Xét về mặt biện chứng, Đạo học hình như có liên hệ nào đó với một phần biện chứng  của Triết Học Marxiste, tuy nhiên điều cần nhấn mạnh trước tiên là  Đạo Học không chấp nhận chủ trương duy vật biện chứng  kiểu Marxiste. Còn lại nếu muốn vận dụng từ "biện chứng" thì nên hiểu Đạo Học là một biện chứng Duy Tâm. Nhưng tự bản chất Đạo Học không thể gọi là biện chứng kiểu Tây Phương được. 

Căn bản của Biện Chứng, trong bất cứ sự vật - vật chất và tinh thần-đều hàm chứa hai đối cực mâu thuẫn nhau, gọi là "ĐỀ" (Thesis) và PHẢN ĐỀ (Antithesis). Chẳng hạn: trong chế độ Tư Bản -Thì ,Tư bản X Vô sản, Chế độ Phong kiến thì: Chủ nhân X Nô Lệ. Hai giai cấp đối kháng diệt trừ lẫn nhau.

Đạo Học thì nhìn nhận sự vật đều có chứa ÂM-DƯƠNG, nghĩa là có phân cực Marx thì khẳng định hai cực mâu thuẫn đến độ tìm cách diệt trừ lẫn nhau. Trái lạị, Đạo nhìn rõ tính tương tác giữa hai cực, hai cực bổ túc cho nhau. Thật ra, trong thiên nhiên, tuy có những trường hợp bất thường xẩy ra giữa hai cực, nhưng nó cũng không làm thay đổi biểu mẫu chung, vạn vật không nhất thiết gồm hai cực đối kháng nhau quyết liệt. Trường hợp đối kháng có đấy, nhưng lại chiếm phần thiểu số, phần rất lớn, phân cực thì có, nhưng hai cực bổ túc cho nhau. Trong thiên nhiên, đôi khi có trường hợp bất thường (kiểu đồng tình (Gay, Lesbian). Nhưng biểu mẫu phổ thông vẩn là lọai hình bổ túc cho nhau phổ biến hơn cả. Biểu hiện trong các lực vô sinh như điện từ lưc dễ nhận nhất là trong những ứng dụng của hệ nhị phân 1-0 (binary system) trong lảnh vực Điện Toán, cũng như trong các chủng loại sinh vật: giao cấu giữa GIỐNG ĐỰC Và GIÔNG CÁI, sản sinh ra con đàn cháu đống, nối dõi tông đường ...Dù do hậu quả tự nhiên hay có sắp xếp, sự phân cực bổ túc vẫn được coi là biểu mẫu phục hồi hay tái tạo.Trái lại, biểu mẫu của MARX phải coi là biểu mẫu mâu thuẫn hủy diệt:cách mạng vô sản bắt đầu bằng đấu tố diệt địa chủ  đào tận gốc trốc tận rễ để trao quyền làm chủ cho giai cấp vô sản chuyên chính, bần cố nông.