Cô Dương Thị Tuấn Ngọc tốt nghiệp trường Cao Đẳng Nông Nghiệp, Sàigon (tiền thân là trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao, thành lập năm 1955), Kỹ Sư Thú Y, Khoá III, 1961-1964.  Năm 1964, Cô được Nha Học Vụ Nông Lâm Súc bổ nhiệm về trường Trung Học Nông Lâm Súc Bảo Lộc giảng dạy môn Mục Súc cho các lớp đệ Tam, đệ Nhị và đệ Nhất.

Đến năm 1970, Cô rời trường NLS Bảo Lộc và được thuyên chuyển về trường NLS Bình Dương, cũng trong vai trò của một vị giáo sư của ban Mục Súc. Đến năm 1971 Cô nhận được một học bổng tu nghiệp tại Đại Học Chulalongkorn,Thailand. Đến tháng 7 năm 1971, Cô trở về nước và sau đó được cử về dạy các lớp Kiểm Sự tại Nha Học Vụ Nông Lâm Súc, SàiGòn. Cho đến năm 1975, Cô lại được thuyên chuyển về trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Nông Nghiệp tại Thủ Đức. Năm 1981, Cô trở về quê nhà Bến Tre, và làm việc tại trại chăn nuôi heo cấp I, trong vai trò của một chuyên viên kỹ thuật. Rồi đến năm 1982, Cô lại trở về lại ngành giáo dục, giáo sư tại trường trung học Nông Nghiệp Bến Tre.

Năm 1987, Cô quyết định xin nghỉ việc để đi định cư tại Úc Châu 1989, theo diện đoàn tụ gia đình.

Khi đến Úc định cư, vì hoàn cảnh bận rộn gia đình cũng như phần tuồi tác đã cao, Cô không tập trung vào việc kiếm tiền và đã dành thì giờ chăm sóc gia đình và phụng sự tha nhân bằng cách tham gia các công tác xã hội.

Từ năm 1990 cho đến nay, Cô đã dành hầu hết thì giờ của mình làm thiện nguyện cho các hoạt động từ thiện và xã hội như: văn phòng Cộng Đồng Việt Nam tại Marrickville, NSW, Cơ sở CentaCare, làm việc bán thời gian cho trường Bí Giáo (Esoteric School), Hội Cao Niên Việt Nam tại Cabramatta và Marickville, thư viện của Theosophycal Society, Sydney.

Qua quá trình dài sinh hoạt và phục vụ thiện nguyên, Cô đã được Bộ Chăm Sóc Người Già (Department of Ageing, Disability & Home Care) chọn và đề nghị nhận bằng khen thưởng của Thủ Hiến Bang NSW, đó là bằng "Seniors Week Achievement Award" của năm 2005. Cô là người Việt duy nhất trong số 54 người nhận được bằng khen này của tiểu bang New Southwales.

Trong suốt chiều dài của những năm miệt mài phục vụ trong ngành giáo dục chuyên khoa có lẽ những năm dạy ở trường NLS Bảo Lộc đã để lại dấu ấn đậm nét nhất trong cuộc đời dạy học của Cô. Là một trường nội trú, hầu hết các học sinh xa gia đình trong số tuổi còn rất trẻ, có em chỉ ở tuổi 13, và chính Cô với nhiệt huyết của cô giáo trẻ đã dấn thân trong nhiều lãnh vực khác hơn là nhà giáo thuần túy; ngoài việc truyền đạt kiến thức, Cô còn phụ trách hướng dẫn và chăm sóc các em học sinh. Cô vừa là người thầy, vừa là người chị chăn giữ, chăm sóc, an ủi, tâm tình các em học sinh. Và là chứng nhân cho sự lớn dần của những người học trò nhỏ dại của Cô. Chính hoàn cảnh đặc biệt nầy, Cô đã được học trò yêu mến, gần gũi, thương quí, gắn bó. Tâm tình thầy trò ngày cũ đó sống mãi dù mấy mươi năm đã trôi xuôi.

 

Khi đến Sydney, Úc Châu, định cư, cô đã bỏ rất nhiều thì giờ tham gia tích cực  sinh hoạt của gia đình NLS, là gia trưởng của gia đình NLS Úc Châu trong nhiều năm. Cô cũng rất thương mến và đã liên lạc thường xuyên với Hội. Nhân ĐH 4, 2007 vừa qua cô không ngại sự xa xôi đã qua tham dự. Tích cực hơn, ngoài việc đóng góp tài chánh cho ĐS 2007, 2008 Cô còn dành thì giờ viết bài cho Đặc San.

Nhân sinh nhật của Cô vào tháng năm, chúng em xin đại diện cho học trò của Cô, kính gởi đến Cô lời chức mừng chân thành nhất và xin cô ghi nhận lòng tri ân công dạy dỗ và ân tình Cô đã cho chúng em - Trang Nhà

 

 

Tìm hiểu vận tốc của các hạt cực vi tử

 

Study about the super-micro particules' speeds

 

A. Vào thế kỷ thứ 19, nhà bác học Albert Einstein (1879-1955) đã tính toán và đưa ra kết luận về vận tốc ánh sáng, để rồi sau đó các khoa học gia về vật lý đều áp dụng trong vật lý không gian cho hết mọi công thức và những tính toán có liên hệ đến không gian và ánh sáng.

Theo Einstien:

  • Điều thứ nhứt: Ánh sáng có bản chất hạt (particule), những hạt nầy rất nhỏ được gọi là quang tử (photon), có thể gọi là cực vi tử (super-micro-particule), lúc bấy giờ Einstien không nêu rõ kích thước của những hạt nầy.
  • Điều thứ hai: Ánh sáng di chuyển theo một vận tốc không thay đổi trong môi trường chân không gần 300,000 km/giây (299,792 km/giây), hằng số vận tốc ánh sáng nầy thường được các khoa học gia dùng làm đơn vị đo đạt những khoảng cách trong không gian.

B. Cho tới thế kỷ 20-21, dã có nhà khoa học tại Mỹ là Lijun Wang đã có nhận ra rằng nếu các hạt cực vi tử mà nhỏ hơn quang tử thì vận tốc của chúng lớn hơn vận tốc ánh sáng của Einstein, và các hạt cực vi tử ấy nhanh đến nổi như chúng tồn tại ở hai nơi cùng một lúc, có nghĩa là thời điểm đến cũng là thời điểm bắt đầu đi; Kết luận là: Nếu những cực vi tử nhỏ hơn quang tử thì chúng đi nhanh hơn hằng số ánh sáng của Einstein và có thể tồn tại ở hai nơi cùng một lúc.

Theo kết quả kiểm chứng của các nhà khoa học khác, họ cũng đồng ý với Lijun Wang và điều nầy đã thay đổi thế giới quan của họ.

C. Hiện nay có lẻ ý thức mới mẻ nầy đối với một số người có thể còn quá mới mẻ, hoặc chưa hiểu được hoặc chưa chấp nhận được nhưng rồi từ từ nó sẽ không còn mới mẻ đối với chúng ta nữa.

Khi nhận định được có những cực vi tử quá nhỏ có thể đi nhanh đến độ mà lúc đến nơi cũng là lúc bắt đầu đi thuộc hai nơi rất rất xa nhau, sẽ giúp chúng ta hiểu thấu được thế giới của các cực vi tử nhỏ hơn nguyên tử của cỏi Hồng trần nầy. [chú ý: quang tử (photon) cũng là một cực vi tử (super-micro-paricule) của cỏi Hồng trần]

D. Đến đây chúng tôi thấy cần nhờ tài liệu của bộ Secret Doctrine của Madame Blavatsky (nhà bí học người Nga). Bà viết từ những tài liệu cỗ xưa về những cách tính đơn vị vật chất của các cực vi tử trong các cỏi, theo tài liệu nầy, đơn vị được dùng để tính cho các cỏi là Bọt nguyên khí còn gọi là bọt Tiên thiên khí (Koilon)

 

             Cõi

Đơn vị

  Số bọt koilons

Cõi Tối Đại niết bàn

(Mahaparanirvana plane)

1

      490  = 1

Cõi Đại Niết bàn

(Paranirvana plane)

1

      49= 49

Cõi Niết bàn

(Nirvana plane)

1

      49= 2401

Cõi Bồ đề

(Bouddhi plane)

1

      493 =  117,649

Cõi Thượng giới

(Mental plane)

1

      494 =  5,764,801

Cõi Trung giới

(Astral plane)

1

      495 =  282,475,249

Cõi Hồng trần

(Physical plane)

1

      496 =  13,841,287,201

 

  • Xem qua bản trên, ta nhận thấy: Các hạt cực vi tử của cỏi Hồng trần nặng trược nhứt, vì nó có số bọt nhiều nhứt trong 1 đơn vị (gần 14,000,000,000 bọt). Chúng nó di chuyển theo tốc độ như quang tử gần 300,000km/giây.
  • Còn những hạt cực vi tử của các cỏi khác có số bọt Koilons nhỏ hơn nhiều đối với nguyên tử hồng trần sẽ có những vận tốc nhanh hơn nhiều, nhanh đến độ mà lúc đi và lúc đến ở hai nơi cách rất xa nhau cùng một lúc .
  • Vì thế các khoa học gia mới kết luận là: "Những cực vi tử có kích thước nhỏ hơn nguyên tử có thể tồn tại ở hai nơi cùng một lúc."

E. Khi suy cho cùng, thì ta có thể nói là: Khi thân ta làm bằng những cực vi tử nhỏ hơn nguyên tử hồng trần thì chúng ta không cần phải đi tàu bay, tàu ngầm gì cả cũng gần nhau và biết nhau được tất cả.

F. Bởi vậy thân của Đức Phật sau khi ngài thành chánh quả gọi là pháp thân (1) được Ngài gọi là Như Lai.  Chữ Như Lai theo tiếng Hán Việt có nghĩa là: chẳng từ đâu lại chẳng đi về đâu hay ở đâu cũng là ở đây, là đúng sự thật vậy.

Nói rõ thêm: Pháp thân của Phật vượt qua khỏi qui ước hạn hẹp của không gian và thời gian nên Ngài tự xưng Như Lai là đúng sự thật vậy.

(1) Hiện tại Pháp thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuộc cỏi Niết bàn và số bọt koilons của cỏi nầy chỉ có 2401 bọt koilons trong một đơn vị mà thôi.

 

Dương thị Tuấn Ngọc
Sydney , 12/2000