altNhỏ Mai và anh Ba Khả 

Sau khi làm quỉ sứ quỳ gối dang tay mủi dãi lòng thòng, rách mất vài cái quần xà lỏn xanh đỏ ở trường thầy Chín được hơn một năm, tui được đi học ở trường tiểu học công-lập của tỉnh - Trường Tiểu học Nguyễn Du.
 
Mỗi buổi sáng từ nhà đến trường tui thường ghé qua cái xe bánh mì của dì Chín (hỏng phải vợ thầy Chín đâu nha!) ở trước quán hủ tiếu Cây Trứng Cá đưa cho bả một đồng, đổi lấy một ổ bánh mì thịt hay xíu mại nóng hổi, vừa đi vừa gặm, mắt láo liên canh chừng không cho thằng nào rề rề tới gần xin cắn miếng.

Bánh mì dì Chín ngon lắm, mấy anh pilot thường sau khi ăn hủ tiếu xong còn mua thêm vài ổ đút vô cái túi dưới chân chắc là để dành ăn trưa ở trên trời. Bây giờ ở xứ Mỹ này tui ăn đủ thứ từ bánh mì Ba lẹ, Hương Lan, Hà Nội đến Lee Sandwich nhưng vẫn không thấy ngon bằng bánh mì dì Chín hồi đó. Chắc tại hồi đó nhà tui nghèo quá, chứ không như bây giờ, tui giàu lắm.
 
Cũng như những thằng nhóc khác, tui thường phải đi bộ đến trường nhưng sau vài tuần vừa đi vừa gặm bánh mì tui nhập bọn dân chơi xe bò.
 
Băng qua đường đến trước Ty Cảnh Sát Biên Hòa tụi tui thường đứng đợi coi có chiếc xe bò nào còn trống thì leo lên đi ké đến trường. Giờ nhớ lại, mấy ông già đánh xe bò thời đó hiền queo, mấy thằng nhóc tui leo lên nhảy xuống la hét om xòm ỏm tỏi mà vẫn không bị la mắng, rầy rà một tiếng nào.
 
Tui thích nhất là bữa nào hên nhảy lên được xe bò của ông Ba Râu, ổng có bộ râu cá chốt trắng phao, 2 bên vểnh lên như 2 cái sừng trâu mà ổng thường hay đưa tay lên vuốt vuốt. Tui giờ cũng có râu mà sao nó không bao giờ vểnh lên cho dù tui xài hết cả chai Gel.
 
Trên xe của ông Ba Râu tui có quen được một người bạn thân tình, con Mai, cháu nội của ổng, sáng nào nó cũng theo ổng đem xe bò ra chợ Biên Hòa chở hàng về tận rừng Tân Phong. Nhỏ Mai lớn hơn tui một tuổi mà vẫn chưa đi học nên tui dạy cho nó tập đánh vần ê a sau khi chia cho nó nửa ổ bánh mì, bù lại thỉnh thoảng nó cho tui mấy con dế than hay dế lửa gáy re re trong cái quẹt diêm. Con Mai còn bức tóc làm cho tui mấy cây que dế. Nó thường đưa mắt buồn bã nhìn theo khi tui phải ôm cặp nhảy xuống khi xe đến gần cồng trường Sông Phố. Chỗ đó đi về bên phía mặt là ra chợ, phía trái là trường tui.
 
Có lần nó nói:
- Phải chi tao được đi học với mày.
 
Tui nhớ là đã phán lại một câu xanh rờn:
- Mày còn ngu quá sao đi học được.
 
Đó cũng là lần cuối cùng tui gặp con Mai. Nghe nói ông Ba Râu bị bắt vô rừng chở cái gì cho ai đó rồi không bao giờ trở lại.

Mai ơi! cho tao xin lỗi mày, bây giờ mày ở nơi đâu? Mấy con dế mày cho đã chết từ lâu nhưng hình như tao vẫn còn nghe tiếng gáy đâu đây.

Hay là tiếng than khóc tận đáy lòng tao?
 
altMỗi buổi sáng, từng chiếc rồi lại từng chiếc xe bò chậm rãi cọc cạch leng keng đi ngang qua trước mặt, tui cố chạy đến kiễng chân ngó vô góc thùng xe để tìm con Mai cho dù từ xa đã biết là không phải xe của ông Ba Râu. Biết làm sao hơn khi tui muốn kiếm nó, tui muốn ngồi xuống mà nói với nó rằng :
 
- Mày đừng có buồn, tao đi học được chữ nào sẽ chỉ lại cho mày, rồi mày cũng sẽ biết đọc như tao thôi. Tao cũng sẽ dạy mày làm tóan nhân để mày khỏi phải đếm hết ngón tay tới ngón chân. Tao sẽ…   Ôi , nhiều điều tui muốn nói với nó để chạy cái lỗi đã nói nó ngu hôm trước.
 
Mà cả tuần nay rồi tui vẫn không thấy nó lẫn ông Ba Râu, ngày nào cũng chỉ ăn đến nửa ổ bánh mì thì cảm thấy như có cái gì nghèn nghẹn trong cổ họng không nuốt vô được nữa… tui lặng lẽ gói lại bằng tờ giấy báo; cột chặt lại bằng sợi dây thung, dấu kỹ vô cặp hy vọng biết đâu chút nữa sẽ gặp con Mai mà chia cho nó. Tui biết có khi tui đã khóc khi gói lại nửa ổ bánh mì.
 
Tui nhớ nhỏ Mai vô vàn.
 
Trong lớp, bất kể roi dài thước ngắn của cô giáo, tui ráng vẽ cái mặt tròn quay với 2 cái đồng tiền lõm vô trên gò má, cái đầu tóc bù xù có khi được ai đó cột lại bằng sợi dây thung xanh đỏ hai bên làm cho cái đầu nó trông như là cái trống lắc lắc kêu bụp bụp, cái đồ chơi của con nít, tui còn cho nó mặc một bộ đồ mới trong hình, thay cho bộ đồ bộ thiệt của nó có in mấy cái bông gì đó đã cụt ngủn sờn vai, 2 cái túi trước bụng đã biến đi đâu mất chỉ còn lưa thưa mấy sợi chỉ, mấy hột nút thì đủ màu đủ cỡ, có vài hột hơi bự hơn cái khuy làm nó cài vô không được đành để lòi cái bụng đen xì ra, tui đoán hình như nó chỉ có một hai bộ đồ để mặc khi đi ra tỉnh mà thôi, khi ở nhà chắc nó ở trần dang nắng suốt ngày trên ruộng nên cái bụng của nó có 2 màu khác biệt, trên đen dưới trắng mà lằn ranh là cái lưng quần.
 
Nó là con nhà nghèo mà!
 
Má tui nói vậy khi nghe tui kể lại sau này. À! Mình nghèo thì cũng có người nghèo hơn ha!
 
Thì cũng phải thôi!
 
Nhỏ Mai mồ côi cả cha lẫn mẹ, chỉ còn có ông Ba Râu là người thân, ổng kể rằng ba nó đi lính gì đó rồi đi luôn trước khi nó ra đời, má nó cũng đi dâu mất sau khi sinh ra nó độ vài tháng. Ổng chép miệng:

- Hồi đó bà vợ tui còn sống nên cũng đở khổ, chớ mình tui như bây giờ chắc chết!
 
Tiếng ‘‘chết’’ của ổng thường hay kéo dài lê thê nghe sao buồn dịu vợi như có người thân qua đời, tui nhớ là như vậy.
 
Tui vẽ nó đứng dang hai chân hai tay, cặp mắt tròn vo long lên  dữ dằn trên sàn xe bò ráng sức xua đuổi mấy thằng nhóc đang tính trèo lên xe của nó, cố giữ chỗ cho tui, cái chỗ ngon lành nhứt ở tận phía trước, ngay sau lưng ông Ba Râu mà nó đã cẩn thận đặt một cái bao bố nhỏ có dồn thêm chút rơm màu vàng. Cứ y như là Xe Bò First Class.

Nó thường hay nói:

- Tao thay rơm hôm qua cho mày rồi đó! Mỗi khi tui ngồi lên cái bao bố đó.
 
Vậy mà ………
 
 Giờ mày ở đâu Mai? Tao lại muốn khóc, mày có biết hay không?
 
Sau này khi lớn lên tui lại phải có đôi lần buồn rầu nhớ thương nhỏ Mai , như khi đọc truyện của ông Xuân Vũ trong cuốn 2.000 ngày đên trấn thủ Củ Chi, có chương nói đến những người đánh xe bò ở vùng Tân Phong bị VC giữ lại trong rừng năm này qua năm khác, không cho về với vợ con , gia-đình để vận-chuyển lương-thực cùng súng đạn không công cho họ cho đến khi tàn cuộc chiến.
 
À! Thì ra thế!  Quả đúng như một ông đánh xe bò khác đã kể cho tui nghe hồi đó.
 
Nhưng còn nhỏ Mai?
 
Tui đọc mà tưởng như đang thấy ông Ba Râu ngồi ủ rũ bên cạnh chiếc xe bò mặt cúi gầm dưới nòng súng AK, trong lòng lo cho con Mai đang ngồi một mình trong cái chòi hoang vắng khóc lóc thảm thương giữa đêm khuya sau khi người thân yêu cuối cùng trong cuộc đòi ngắn ngủi của nó bị bắt đi. Rồi ai cho nó ăn? Tiền đâu nó mua gạo nấu cơm? Hay là nó  lang thang vô rừng sống với khỉ như trong phim Tarzan trong rừng thẳm? Tui cứ suy đoán mông lung cả một đời.
 
Kỳ lạ thay, tui bỗng dưng cầu Trời khấn Phật cho họ bắt luôn con Mai để nó khỏi phải chết đói, chết buồn. Hay phải lấy chồng khỉ đột.
 
Sao mà nghe như chuyện nô lệ thời trung cổ , ông cháu người ta đã nghèo nàn, quê mùa chỉ biết đánh xe bò kiếm miếng cơm manh áo vậy mà cũng chẳng được yên thân, Chúa Phật ông Trời bận đi vắng nơi đâu?
 
Mới gần đây thôi, khi đọc chuyện của nhà văn Không Quân nổi tiếng  Vincent viết về những ngày cuối cùng ở Nha-Trang, tui lại ứa nước mắt khi đọc tới đoạn có bà già bán vé số dẫn đứa cháu gái nhỏ đến năn nỉ xin ảnh giúp cho một ngõ thoát thân trên chiếc trực thăng cuối cùng vào năm 1975.
 
Tui lại thấy gương mặt buồn bã của nhỏ Mai trên cái màn hình.
 
Tui muốn chửi thề thật lớn, thật to, muốn chém đứt tất cả những gì trước mặt, xung quanh bằng cây kiếm Nhật treo trên tường chẳng bao giờ lấy xuống tự bao năm qua.
 
Nhỏ Mai có tội tình chi?
 
Vì ráng đứng kiếm nhỏ Mai mỗi sáng mà tui thường trễ học, bị cô giáo lớp Năm lấy thước đánh đỏ cả hai bàn tay, tuy là đau nhưng tui không ngán, dầu gì cũng đã qua hơn một năm huấn nhục tại trường thầy Chín, nhằm nhò gì ba cái trò lẻ tẻ này. Lớn lên thêm chút nữa, tui đánh lộn có tiếng vì không sợ đau.
 
Tui không khóc nữa chỉ hơi khẽ hít hà nhảy tưng tưng, thò tay này, thụt tay kia và có lẽ hơi mếu máo một chút nhưng lại rất buồn mỗi khi bị cô đánh xong, là vì ngày nào còn bị đánh là ngày đó chưa gặp lại được nhỏ Mai.
 
Tui còn có thủ sẳn một cục xà bông Cô Ba trong cặp mà tui xin của chị Gấm, chị giúp việc nhà tui định cho nó vì tui nhớ có lần nó nói tao chưa có gội cái đầu bằng xà bông bao giờ. Cũng vì cục xà bông này mà tui phải ngồi chơi với muỗi ,canh cửa mỗi đêm cho chị Gấm chạy ra ngoài vườn mãng cầu hẹn hò tình tự với anh Năm tài xế xe be.

Hên cho tui là chỉ độ vài tháng sau thằng chả bị bà vợ ở dưới quê lên nắm cổ kéo về như bò cái kéo khúc cây sau khi chơi nhau bằng đòn gánh với chị Gấm nhà tui một trận kinh hồn áo rách quần bay nước chảy ngoài giếng nước. Uổng quá! bữa đó tui đi học, chiều về nghe nhỏ em gái kể lại mà tiếc hùi hụi, mặc kệ cho chị Gấm đang ngồi khóc tỉ tê ngoài vườn trong khi má tui đang ca lớn thiên trường khúc "Thật là đáng tiếc“ “Tao đã dặn“ ở bên cạnh.
 
- Ờ! thì má mầy đang “dặn” radio đó. Ông già tui nheo mắt. Tui còn nhớ rõ ràng ổng còn nói  với má tui:
 
- Thôi bà ơi! Tui cũng tiếc vậy! Phải chi tui về sớm một chút thì đỡ (hay là đã) biết mấy…
 
Giờ thì tui đã biết ba tui tiếc cái chi. May mà má tui trong cơn nóng giận không để ý đến cái tài ăn nói của ba tui ngày đó. Ổng là lính đa tình.
 
Để rồi một sáng kia, đợi hòai đợi mãi mà chẳng có chiếc xe bò nào ngang qua, tui quên mất chuyện đi học, mãi cho đến lúc thấy mấy ông cảnh sát thay ca, nhìn lên trời chẳng còn chiếc máy bay nào bay ngang qua, quán hủ tiếu vắng teo, tui mới biết là đã quá trễ giờ đến trường. Cho đến bây giờ cũng vẫn không hiểu tại sao nhưng hôm đó tui đã làm một chuyện thật là vĩ đại trong đời, tui không thèm đi học nữa. Tui có thêm cái tật lầm lì từ đó.
 
Hôm đó tui bỏ học đi lang thang suốt một buổi sáng lần đầu tiên trong đời.

 

oOo

Chạy băng qua bên kia đường từ chỗ tui thường đứng đón nhỏ Mai, ngang qua cây xăng Shell có hình con sò vàng óng của nhà thằng Tài Lé, nơi mà 10 năm sau con Tâm, em thằng Tài cứ lấy kiếng cận xuống lau lia lịa mỗi khi thấy tui cỡi chiếc Honda Dame của ông già đến đổ xăng.

Không phải nó muốn ngó cho rõ là tui đẹp trai đến cỡ nào mà chỉ vì nó thường hay thối dư tiền lại cho tui rồi bị má nó cho mấy phát vô mông.
 
Có ai tính ăn gian nó đâu? Chỉ tại lúc đó là tui đang tập làm dân chơi Biên Hùng, ra cái vẻ bất cần đời trên gương mặt lấm tấm mụn cứ không thèm để ý đến tiền bạc mà chỉ lo “địa” cái mông xinh xinh của nó.
 
Ồ! hình như tui đang lạc đề? Xin lỗi bà con nha! Tui có cái tật từ nhỏ là thường hay đi lạc mỗi khi thấy hay nói đến chuyện mấy cái mông tròn trịa phồng phồng. Đến bây giờ già cả mắt đã "kèm nhèm" mà vẫn không khá nổi.  Nhiều khi đang chở mông này trên xe lại lo ngó mông kia bên đường để rồi tung vô mông xe đằng trước, về nhà lại bị mông đè le lưỡi mà vẫn tính nào tật nấy.
 
Chắc là tại Ba tui thôi.
 
Học trò tiểu học Nguyễn Du thời đó đi học phải mặc đồng-phục quần sort xanh dương áo sơ-mi trắng, bỏ vô quần, bây giờ kêu là đóng thùng bỏ hộp gì đó.

Trước khi nhập học cỡ vài tháng má tui dẫn tui ra tiệm may Định ở ngay đường Trịnh Hoài Đức đặt may cho tui 2 bộ láng coóng. Ngày đó lính Mỹ chưa đến Biên Hòa xài đô la xanh đỏ ở Dốc Sỏi nên 2 bên đường rất là vắng vẻ, chưa có mấy cái bar với cái quầy và mấy cái ghế cao cao lúc nào cũng có mấy chị mặc mini jupe trắng đỏ ngồi tréo cẳng lắc lư theo tiếng nhạc xập xình, ánh đèn đủ màu chớp chớp ma quái, cũng chưa có cafe Tuyệt với cái chị gì có gương mặt đẹp và mái tóc dài êm ả như sóng nước hồ thu.
 
Trên quảng đường này tui có rất nhiều anh em bạn bè bằng hữu giang hồ mà rồi lần lượt khi nào có dịp tui sẽ kể ra.
 
Má tui kéo tui đi bên phía tay mặt về hướng chợ, bên kia đường là một biệt thự rộng lớn đầy cây kiểng, nhà của ông Đỗ Cao Lụa, thân phụ của cố đại tướng Đỗ Cao Trí. Đã quá lâu tui không còn nhớ tên nhưng tui nhớ trong ngôi nhà đồ sộ sang trọng vào bậc nhứt tỉnh lúc đó có một người con gái rất là đẹp. Không những chỉ là đẹp mà còn có một vẻ gì kiêu sa huyền bí qua cái áo sơ mi trắng ngắn tay trên cái quần lụa đen tuyền làm cho tui thấy rụt rè sợ sệt mỗi sáng đi học ngang qua nhưng vẫn thich he hé mắt nhìn.
 
Chị ấy đẹp như người đẹp, tui thường nói với mấy thằng bạn như thế mỗi khi thấy chị đứng im lặng ở trước sân vườn mỗi sáng hoặc chiều. Sau này khi bắt đầu già tui cũng có được một con vợ đẹp nhưng mà nó thường không bao giờ đứng yên nhất là cái miệng.
 
Tui có tội tình chi?
 
Bị bà già lôi kéo mãi rồi thì cũng đi ngang qua Lò Bò hôi rình, chỗ người ta mổ xẻ thịt bò đem ra chợ bán , trong xóm đó tui có một người đàn anh dân chơi dao búa nổi tiếng là anh Ba Khả, anh Khả học chơi cái gì cũng đẹp, văn nghệ văn gừng một cây,  ảnh học hạng nhứt trong trường , đi sĩ quan Đà Lạt đánh lộn với niên trưởng bị đưa về Thủ Đức ảnh lại nổi hứng mần luôn sĩ quan huấn luyện bị cho ra binh nhì. Buồn tình anh Ba Khả bỏ về Lò Bò làm vua một cõi.

Tui quen với anh Ba Khả là vì một sáng lang thang qua đó tui bị mấy thằng Lò Bò chơi hội đồng vì cái tội ‘‘có cái mặt dễ bực dễ ghét’’ chi đó.
 
 Ơ hơ! Tao đâu có biểu tụi mày dòm?
 
Đang bị tụi nó đấm đá tưng bừng hoa lá tưởng là sắp thành trinh-nam lên thiên đàng thì anh Ba Khả từ trong quán cóc bước ra lừ mắt, cả đám tụi nó hoảng hồn bỏ chạy vô trong hẻm.

Tui theo anh Ba Khả vô nhà ảnh ở tuốt sâu bên trong, phía sau lò mổ bò để cho chị Tuyết, chị Hai của ảnh xức thuốc đỏ vô cái mặt đáng ghét giờ đã thành đáng thương… hại của tui. Về sau khi hơi lớn lớn bắt đầu tập tành đứng ở đầu hẻm hay ngay trước rạp Biên Hùng kênh mấy tên bắc kỳ khác xóm thì tui mới biết rõ cái lý do anh Ba Khả cứu tui ngày đó.
 
Chuyện dễ như ăn cơm sườn! ảnh nói:

- Tao không thích mấy thằng chơi hội đồng! Mà cái mặt mày cũng dễ đục lắm, lúc nào cũng kênh kênh… hề… hề…
 
Anh Ba Khả đã bị mấy ông quân cảnh bắn chết! Bên kia bắt, bên này bắn, người thân yêu của tui dần dần biến đi đâu mất. Tui không oán thù mấy ông quân cảnh, mấy anh đó chỉ thi hành nhiệm vụ, tui biết anh Ba Khả có tội đào-ngũ, lại có súng trong người nhưng mà hình như ông Clinton cũng chẳng trốn lính hay sao?

Biết nói chi đây, tui chỉ là thằng nhóc con ngày đó! Và bây giờ thì Mỹ - Cộng hài hoà phúng phính trong cái áo dài cổ truyền phong kiến có in chử THỌ cùng nhau đi lễ chùa Hương còn thằng tui thì âm thầm nhang đèn cúng vái cho nhỏ Mai với anh Ba Khả trong lòng.
 
Bất công quá ha!
 
 Đối diện với bịnh viện Biên Hòa là tiệm may nhà thằng Định. Ba nó, ông chủ tiệm lấy tên thằng con trai cưng đặt tên tiệm, thằng Định là bạn học cùng lớp với tui, tánh nó rất hiền lành, ít nói , lúc nào cũng ngồi yên một chỗ như trời đã định nên có lẽ vì thế mà cái tiệm may Định có ông chủ tiệm kiêm luôn thợ may chính lúc nào cũng ngồi yên một chỗ đọc báo, hỏng có chi làm trừ những lúc buồn buồn ngó qua bên kia đường chỗ có nhà thương Biên Hòa ngắm mấy cô y tá rồi có may tay hay không thì thú thiệt tui không biết. Phải về hỏi thằng Định, hình như bây giờ nó đang nối nghiệp ông già ngồi may cái gì ở đó với con vợ to như cái mền. Chắc là của ai đặt rồi không đến lấy nên nó phải lấy.
 
Vợ nó!
 
Má tui thì cũng như tất cả những người vợ lính thời đó ăn xài rất là tiện tặn, lúc nào cũng nghĩ đến chuyện ‘‘ít tốn kém’’ nên bị mang tiếng là chị Tư hà tiện. Bả thứ Tư nhưng cái miệng của bả thứ Nhất, ba tui phán!
 
Tui xin đồng ý cả hai tay.
 
Hôm nay nhớ lại thì thấy tội nghiệp và thương nhớ ngập tràn mấy bà vợ lính hà tiện đó chứ ngày ấy tui rất là bực bội với má tui về cái bộ đồng phục.
 
Đợi cho ba thằng Định đo đạc xong xui má tui nhỏ nhẹ cất tiếng lanh lảnh:
- Nó còn lớn, bác may dùm cho rộng rộng trừ hao....

- Thế thì rộng và dài hơn một phân nhé? Ba thằng Định tay cuộn lại sợi dây thước đo màu vàng đã ngả nâu mớm ý.

- Ối dào! một phân thì nhằm nhò gì, ông tướng này lớn như thổi ấy, xin bác cho thêm vài phân.

Quăng mạnh cuốn sổ nho nhỏ dùng để ghi kích thước vào một góc bàn, ông chủ ngồi bật ngửa ra ghế:

- Thế thì đo đạc mà làm gì cho tốn công! tui để rẻ cho bà cái bộ kia, vải thượng hạng đấy, người ta đặt mà không đến lấy, tui chỉ xin lại tiền vải thôi!
 
Ông chủ tiệm đưa tay chỉ lên một bộ đồng phục đang treo trên tường.

Cho dù là khi mặc vô thử thấy rõ ràng là tui đang trốn vài năm trong đó vậy mà má tui hớn hở cám ơn rối rít khi được biết đỡ tốn một số tiền để dành cho ba tui đi nhậu hay là có vốn gầy thêm một bầy gà.
 
Tội nghiệp má tui! Cả đời nghèo khổ, bây giờ có tí tiền rủng rỉnh cũng chẳng dám xài.
 
Sau này khi tui xém bị xe Lambretta đụng mấy lần vì cứ thơ thẩn bên đường nhớ nhung nhỏ Mai. Thằng quỉ Định mới tiết lộ một tin quan trọng là bộ đồ đó của một thằng lớn hơn tui mấy lớp bị xe đụng chết. Chắc là nó muốn kêu mày đi theo cho có bạn.
 
Xui quá má ơi!
 
Hoàng Duy Liệu
CN 1971
 

Cùng Tác Giả / Đề Tài