altHình như hắn thích thơ từ hồi mới chập chững bước vào trung học.  Dạo ấy, mặc dù hắn chưa quen được một người con gái nào cả, nhưng hắn đã có riêng một quyển vở dành để ghi chép những bài thơ.  Tất nhiên toàn là thơ tình thôi. Hắn không thích các loại thơ khác, dù là hay cách mấy. 
 
Trong cái quyển vở 100 trang, ngoài bìa trước in hình chiếc xích lô máy, bìa sau in bảng cửu chương, hắn đã ngồi gò lưng nắn nót chép vào đó những bài thơ tuyệt tác mà hắn cho rằng mình vừa phát hiện ra (trong khi thật ra mấy bài này cả nước đều đã biết từ hồi tám hoánh nào rồi).  Hắn chép: Nàng có ba người anh đi quân đội lâu rồi, những đứa em nàng có em chưa biết nói… Hắn chép: Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn, nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn… Hắn cũng chép:  Hôm nay Nga buồn như con chó ốm, như con mèo ngái ngủ trên tay anh, đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình, để anh giận sao chẳng là nước biển...
 
Lớn hơn một chút, mười chín tuổi, bị tổng động viên vào lính, hắn vẫn say mê thơ.  Ngày chúa nhật ở quân trường Quang Trung, trong khi người ta thì vợ con, bồ bịch lên thăm lung tung, còn hắn vẫn trơ khấc ra, ngồi nhìn thiên hạ hôn nhau chán rồi, hắn lủi thủi đi về chổ nằm, lôi thơ ra chép.  Lúc này tập thơ của hắn đã là quyển sổ dày hai ba trăm trang giấy ca-rô, bìa cứng có bọc bao ny-lông trong suốt, lại còn có một sợi dây nơ đỏ chắc dùng để đánh dấu trang.  Ngồi dưới mái tôn nóng hừng hực, bên cạnh toàn là tiếng chửi thề, hắn cặm cụi chép:  Ta đội nón mời em đi uống rượu, cuộc tình sầu thôi hãy gác qua bên, ta đâu có giận hờn chi cuộc sống, dù thật tình buồn lắm phải không em?...  Và hắn chép:  Chiếc phong bì nhỏ không bền được, thời gian làm rách một đôi nơi, tôi lấy hồn tôi làm miếng vá, trăm năm nguyên vẹn trái tim người….
 
Tới năm hai mươi tuổi, hắn ngơ ngác đi lấy vợ, vẫn không một mảnh tình vắt vai.
 
Lấy thì lấy, hắn vẫn yêu thơ.  Mặc dù rất nhanh chóng, hắn hiểu ra được là hắn chỉ được phép yêu thơ trong âm thầm len lén thôi, chớ dại mà công khai.  Bởi vì vợ hắn không thích thơ và nghiêm cấm mọi hoạt động thơ dưới mái gia đình.  Vợ hắn đối xử với thơ tương tự như chính quyền đối xử với ma túy.  Luật pháp quy định ai mà buôn bán hai bánh ma túy trở lên sẽ bị tử hình, còn hắn nếu bị phát hiện giấu hai tập thơ trong nhà thì vợ hắn sẽ làm cho hắn có sống cũng không bằng chết.  Cho nên trong suốt giai đoạn này, thỉnh thoảng nếu có bắt gặp bài thơ nào hay hay, đăng trong các tạp chí như Văn, Văn nghệ quân đội, Tiền Phong, Chiến sĩ Cộng Hòa… hắn phải cố mà đọc cho thuộc thôi, chứ không dám chép ra nữa.  Hắn ghi vào bộ nhớ trong óc hắn:  Và ta kẻ mười năm không áo lạnh, biết đời mình đủ ấm hay không?... Lần khác hắn ghi: Mai anh đi chắc trời mưa, anh chắc trời mưa mau, mưa thì mưa chắc anh không bước vội, nhưng chậm thế nào thì cũng phải xa nhau.  Mấy hôm sau hắn lại lẩm nhẩm cho thuộc:  Tại sao đời cho tôi hai mươi tuổi, để tôi ngồi đây, thở khói thuốc hơi tròn, nhìn mưa bay, nhớ những người yêu cũ, và nghĩ thầm, đời là một tiếng cười to….
 
Nói chung hắn vẫn  hài lòng lắm.  Dù không còn quyển vở 100 trang, không còn quyển lưu bút 200 trang giấy ca-rô thơm mùi giấy mới, dù có phải ghi thơ vào trong một trong những nếp nhăn của đại não, nhưng ngày ngày hắn vẫn có thơ tình để đọc, hắn vẫn sướng, hắn tin chắc rằng cái nguồn cung cấp thức ăn tinh thần này sẽ không bao giờ cạn, vì như một nhà văn phương Tây nào đó đã nói con người ta đâu chỉ sống nhờ bánh mì.
 
Nhưng hắn đã lầm to.
 
Khi chiếc xe tăng T-54, mang số hiệu 390, húc đổ chiếc cổng sắt nặng nề của Dinh Độc Lập vào sáng ngày 30-04-1975 thì không còn gì nữa hết.  Mọi thứ đều đảo lộn.  Có nhiều thứ đột nhiên biến mất.  Những chuẩn mực đạo đức của xã hội, những tà áo dài,  những quyền căn bản của con người tự nhiên bốc hơi.  Tất nhiên thơ tình cũng chịu chung một số phận.
 
Những năm đầu trong trại cải tạo làm gì có Thơ?  Ở trong đó chỉ có lao động là vinh quang thôi.  Những giờ phút rảnh rổi hiếm hoi thì lại phải dành cho việc học thuộc Nội Quy trại.  Đại khái như:  Điều 7 cấm mọi sự mua bán đổi chác,  điều 12 cấm lục lọi, tìm kiếm thức ăn trong thùng rác như vỏ khoai mì, vỏ khóm..v..v. Ai ai cũng đói rã rời, tơi tả, ghẻ chóc đầy người, lúc ấy ai mà còn lòng dạ gì mà thơ với thẩn???
 
Chỉ đến khi được thả khỏi trại giam, trở về nhà chung sức với vợ để cùng  nhau vật vã kiếm miếng ăn, hắn mới ngỡ ngàng nhận ra rằng:  Việt Cộng cũng rất thích Thơ. Nói cho chính xác hơn, là Việt Cộng rất sính Thơ.  Thơ xuất hiện khắp nơi:  Đi xem triển lãm  Quân Khu 7, thấy chiếc xe Molotova không có kính, hắn bèn hỏi móc tay hướng dẫn viên: “Bộ Liên Xô không chế tạo được kính xe hả anh?”  Tay này lập tức phun ra thơ:  Xe không kính không phải vì không kính, đạn giật bom rung vỡ mất rồi.  Nghe hãi quá, hắn bèn chuồn thẳng ra cửa.  Đó là bộ đội, công an có thơ riêng của công an:  Vợ hắn đi họp tổ dân phố để quán triệt vấn đề khai báo tạm trú, tạm vắng, lúc về, mọi người đều được công an khu vực phát cho một bài thơ, trong đó có câu:  Dù cho bão táp mưa sa, khách lạ đến nhà phải báo công an.  Thậm chí bầu cử cũng có thơ bầu cử:  Tại địa điểm bỏ phiếu ở trường tiểu học Phan Đình Phùng ngay đầu hẻm nhà hắn có ghi một câu thơ bằng co chữ rất to:  Mừng ngày bầu cử tự do, thấy ai tài đức thì cho vô hòm.
 
Phấn khởi trước giòng thơ lai láng, hắn bắt đầu đào sâu tìm hiểu và nghiêm túc nhận ra rằng sự sính thơ này không phải là phong trào tự phát mới có đây, mà nó đã có từ hồi còn chiến tranh.  Khi ấy thơ còn nhiều hơn bây giờ, cứ như nấm sau cơn mưa:  Khoan chồng khoan vợ khoan con, đang còn giặc Mỹ ta còn ba khoan… Một chiếc phản lực F5 trúng hỏa tiễn SAM từ ngoại ô Hà Nội, bay hết đà, rơi xuống hồ Trúc Bạch, ngay đối diện với trụ sở của đội nữ du kích phụ trách an ninh khu vực hồ, thế là sáng hôm sau, các thi sĩ Việt Cộng có ngay thơ đăng báo:  Chị em du kích tài ghê, bắn máy bay Mỹ rớt ngay cửa mình….
 
Du kích thì nói làm gì?  Nông nghiệp cũng có thơ riêng của nó. Nhưng có điều, thơ nông nghiệp nếu kể ra thì cần phải có đầu có đuôi.  Số là thế này:  Ở Hà Tĩnh, một nơi đất cày lên sỏi đá, không trồng cây gì được hết, ngoại trừ cây thuốc lào.  Ở nơi đây, thuốc lào là lẽ sống.  Cho nên, ngoài nghĩa vụ trồng cho Hợp Tác Xã, ai nấy đều tranh thủ trồng riêng một ít cho gia đình mình ở chung quanh nhà, ở các bờ mương,  dọc cầu ao…v..v  Khổ nỗi, cây trồng trong đất hợp tác xã thì èo uột (vì cha chung không ai khóc), trong khi cây trồng tư riêng (vì được chăm sóc kỹ lưỡng), cho nên cực kỳ tươi tốt.  Trước tình hình đó, Ủy Ban Nhân Dân xã mới ra nghị quyết bắt người dân từ nay phải kê khai số lượng cây mình trồng riêng tư, và giới hạn mỗi hộ dân chỉ được trồng tối đa ba mươi cây mà thôi, và để dể kiểm soát, chỉ cho phép người dân trồng trong phạm vi khu vực chung quanh nhà mình ở, cấm trồng lung tung khắp mọi nơi.  Thêm một chi tiết nữa: Ở Hà Tĩnh, ngôn ngữ địa phương người ta không nói trồng thuốc lào, mà người ta nói lông thuốc lào, thí dụ như: Vụ mùa năm nay, nhờ ơn Đảng, toàn tỉnh đã lông được một ngàn héc ta thuốc lào…. Cho nên mới có thơ rằng: Từ nay có lệnh của Ủy Ban, lông ít lông nhiều cũng phải khai, lông quá ba mươi thì phải nhổ, lông trong khu vực cấm lông ngoài….
 
Thơ len lỏi cả vào trong vũ trụ:
 
Kỳ Liên Xô sắp phóng phi thuyền thám hiển không gian gồm 6 phi hành gia và một con khỉ lên không trung để làm thí nghiệm.  Cả thế giới nín thở  chờ đợi.  Nhưng cuối cùng, sắp đến ngày khởi hành thì bổng dưng con khỉ bị bịnh tiêu chảy, không thể nào tiếp tục nhiệm vụ khoa học  được.  Cả nước Liên Xô quýnh quáng lên tìm người thay thế, điều kiện ngặt nghèo là người đó phải ngồi vừa vặn vào cái ghế đã thiết kế sẵn cho con khỉ, và quan trọng nhất, người đó phải có cùng một trọng lượng như con khỉ thì mới đạt yêu cầu, bởi vì theo tính toán khoa học, toàn bộ trọng lượng của phi thuyền nếu chỉ sai biệt một hai pound dưới mặt đất,  tới khi phi thuyền vào quỹ đạo, nó  có thể bị cách xa điểm dự trù tới cả ngàn mile.  Căng lắm chứ không giởn chơi được đâu.  Kiếm hoài không ra, bí quá, Liên Xô bèn cầu cứu Việt Cộng.  Sau một hồi khẩn trương tìm kiếm, cuối cùng Công An Việt Cộng phát hiện ra Phạm Tuân.  Anh chàng Phạm Tuân răng vàng khè, suốt đời độc thân, sống bằng nghề giác hơi trên những vĩa hè tăm tối của Hà Nội, bổng dưng một bước lên quan.  Bởi vì anh có thân hình vuông vuông y chang khỉ, mà khi đưa lên bàn cân, trọng lượng của anh cũng y chang như con khỉ bị bịnh tiêu chảy.  Liên Xô mừng hú hồn, may gấp cho anh bộ đồ bay bằng vải xoa suýt bóng,  nhét anh vào phi thuyền, và hấp tấp bấm nút khởi động….
 
Chuyến bay vòng quanh quỹ đạo hoàn toàn thành công.
 
Thế  là Việt Cộng bắt đầu ca toáng lên, phong ngay cho Phạm Tuân tước vị Anh Hùng, đồng thời ra lịnh cho hơn 400 cây bút lớn nhỏ trong Hội Nhà Văn Việt Cộng phải làm thơ ca tụng sao coi cho được, nếu không thì tháng này sẽ bị cắt sổ mua gạo.  Chưa tới hai ngày sau, thơ ca tụng Phạm Tuân xuất hiện tùm lum, khắp hang cùng ngõ hẻm, khắp đầu đường xó chợ:  Hoan hô anh Phạm Tuân, người anh hùng vũ trụ, tuy anh ngồi ghế phụ, nhưng cũng vẫn anh hùng…
 
Tất nhiên cái chuyện như thể trẻ con đó không khỏi làm cho người dân miền Bắc bất bình.  Ở dưới chân cầu Vĩnh Tuy, có một bà cụ đang gánh bèo hoa dâu, vừa vớt trộm từ ao của hợp tác xã về cho heo ăn, thấy bài thơ ca tụng Phạm Tuân được kẻ nắn nót dưới chân cầu, bà tức khí, đặt gánh xuống, nhìn trước nhìn sau không thấy ai, bà bèn lụm hòn gạch non, nguệc ngoạc viết ngay dưới bài thơ:  Dân còn ăn độn khoai mì, mày lên vũ trụ làm gì hả Tuân?
Viết xong, bà vội vã bỏ đi ngay.  Năm phút sau, có một nam sinh viên đang trên đường tới cửa hàng mậu dịch để sắp hàng mua rau muống.  Đợt ấy rau muống khan hiếm, cửa hàng thương nghiệp chỉ ưu tiên bán cho thương binh, liệt sĩ và đàn bà đẻ thôi.  May quá, má của anh chàng sinh viên này vừa đẻ, cho nên anh hân hoan, phấn khởi cầm đủ các thứ giấy tờ chứng minh,  mau mau đi sớm  đặng còn hy vọng mua được bó rau.  Đi ngang chân cầu, thấy bài thơ ca tụng Phạm Tuân, anh dừng lại, tần ngần đôi chút, rồi anh lụm đúng ngay viên gạch non mà bà cụ chôm chỉa bèo hoa dâu vừa vứt lại, anh viết: Ai lên vũ trụ thì lên, còn tôi ở lại xếp hàng mua rau….
 
Lạ một điều, giữa những ngồn ngộn thơ đó, hắn không tìm ra được một bài thơ tình nào hết.  Loại thơ dành cho tình yêu đôi lứa làm như bị chính quyền  cấm cản, làm như các thi sĩ Việt Cộng không được phép có bộ phận sinh dục hay sao ấy.   Nhất định không chịu thua, hắn nhịn ăn, nhịn mặc, đạp xe ba bánh rã rời thân thể, ly nước mía không dám uống (hắn tự nhủ lòng:  Đâu sao đâu, nhà thơ Nguyên Sa đã từng viết:  Không phải anh ngại đường xá xa xôi, anh cần gì đường dài, anh cần gì nước mía, anh cần gì hoa thơm và chim cười trong lá biếc….) hắn dành tiền mua đủ các loại sách báo thời ấy về đọc, cố tìm cho được những bài thơ tình mà hắn đang lên cơn ghiền.
 
Đâu rồi những nhân tài một thuở của bộ môn Thơ?  Các ông Xuân Diệu, Huy Cận mấy chục năm sống dưới chế độ miền Bắc không làm được bài thơ  nào ra hồn, Phùng Quán còn gắng gượng được vài câu xâm nhập lòng người (Có những lúc ngã lòng, tôi lại vịn câu thơ đứng dậy).  Nhưng đó cũng không phải thơ tình….
 
Tìm mãi, cuối cùng hắn cũng bắt được một bài.  Oái oăm thay, khi ấy hắn đang trên đường vượt biên tìm tự do.  Thể tạng hắn yếu quá, vùa ra tới biển là hắn đã nôn thốc nôn tháo, người rũ ra như xác chết, người ta cho hắn vào nằm trong ca-bin, Nằm một hồi, thấy tờ báo bỏ không trên võng, hắn với lấy đọc và không còn tin ở mắt mình nữa:  Ngay góc trang cuối là một bài thơ tình, mà lúc đó dù biển đang gào thét, dù không có bút giấy nào bên cạnh để ghi, nhưng  những câu thơ hay nhất trong bài vẫn cứ ở trong người hắn cho tới mãi tận hôm nay: (Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan, đường Bạch Dương sương trắng nắng tràn, anh đi nghe vọng lời trong gió, một giọng thơ ngâm một giọng đàn…)
 
Hắn chui ra khỏi ca-bin, lần mò về hướng mũi tàu, hơi biển mặn xâm nhập các giác quan của hắn, nhưng hắn vẫn nhận biết được cứ mỗi giờ đồng hồ trôi đi, là hắn sẽ gần với chân trời tự do hơn một chút.
 
Và hắn tin chắc rằng trong thế giới tự do, những người làm thơ sẽ có đầy đủ bộ phận sinh dục, còn hắn thì tha hồ mà nghiên cứu thơ tình, nguồn cảm hứng muôn đời của nhân loại…../.
 
Dương Phú Lộc
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.