Mẹ tôi sinh năm 1921 tại Lộc Ninh, tỉnh Bình Long (ngày xưa gọi là Hớn Quản). Sinh tại miền Nam vì ông bà ngoại bỏ làng đi làm công nhân cho đồn điền cao su CEXO (Company d' Extrême Orient). Năm mẹ tôi 13 tuổi được ông bà ngoại dẫn về thăm làng cũ cùng với người em gái mới có 11 tuổi, mẹ tôi là con trưởng.
 
Bà nội tôi kể lại rằng thấy hai cô gái này dễ coi nên nhờ người mai mối cho bố tôi lấy cô chị và cô em thì cho đứa cháu gọi bố tôi là cậu. Thế là hai cậu cháu lấy hai chị em. Lúc này bố tôi đã 17 tuổi nên cụ hỏi có muốn lấy vợ không thì bố tôi trả lời rằng: "Bu bảo sao thì con nghe vậy". Ông nội tôi là thầy đồ dạy học và cũng được bầu làm lý trưởng nhưng đã qua đời lúc bố tôi mới ba tuổi.
 
Tục tảo hôn đã làm người phụ nữ Việt Nam không có một thời hoa mộng của người con gái mới lớn. Một người cô ruột tôi, chị út của bố tôi, mới 10 tuổi, nằm trên võng để ru bố tôi ngủ đã có người tới coi mắt để hỏi làm vợ cho con trai. Thời xưa hôn nhân do cha mẹ quyết định, đặt đâu con ngồi đó.
 
Sau khi gả chồng cho hai người con còn nhỏ tuổi thì ông bà ngoại trở vào Nam. Hai mươi năm sau, năm 1954, di cư vào Sài Gòn, mẹ tôi đã 33 tuổi mới gặp lại bà ngoại ở Lộc Ninh, còn ông ngoại thì đã mất. Tôi còn nhớ lúc thắp hương trên bàn thờ ông ngoại mẹ tôi khóc thảm thiết.
 
Mẹ tôi sinh con đầu lòng lúc 15 tuổi và thêm hai người nữa nhưng đều mất cả vì hệ thống y tế thời đó còn lạc hậu và thiếu thuốc men. Tôi là đứa con thứ năm trong gia đình. Sau khi sinh ra tôi thì bố tôi đi theo kháng chiến chống Pháp. Tôi còn nhớ mấy câu mà các cán bộ Việt Minh tuyên truyền cho xóm làng hồi đó là “Bảo Đại là cháu Gia Long, là con Khải Định là dòng việt gian”.
 
Khi bố tôi theo kháng chiến thì mẹ tôi một mình phải cáng đáng công việc đồng áng để nuôi các con và bà mẹ chồng qua cơn đói năm Ất Dậu. Trận đói này đã giết khoảng hai triệu người miền bắc Việt Nam. Một thời gian làm nhân công nhà máy sợi Nam Định mẹ tôi phải dậy sớm đi bộ từ làng ra tỉnh cách xa nhà 10 km rồi chiều lại về nhà. Ban đêm lính Tây pháo kích về làng, đang ngủ phải chui xuống hầm tránh đạn. Ban ngày thì lính Tây về làng để càn quét và ruồng bố, đình, chùa, nhà thờ ông bà đều bị hư hại, sụp đổ.
 
Đình làng tôi ngày xưa được xây dựng trong thái ấp của thượng tướng Trần Quang Khải. Trong khuôn viên đình làng hiện nay vẫn còn hai ngôi mộ của vị danh tướng nhà Trần này và phu nhân là bà Phụng Dương công chúa. Đình làng cũng là nơi tôi theo học lớp Đồng Ấu, lớp vỡ lòng do một thầy giáo làng phụ trách. Năm 2006 tôi có dịp trở về thăm làng cũ thì lại có duyên gặp lại vị thầy xưa, lúc này ông đã ngoài 80 tuổi. Thật là may mắn tôi được ngồi cạnh ông dùng bữa cơm trưa tại nhà thờ họ Nguyễn của chúng tôi. Một cuộc trùng phùng không ngờ hình như có bàn tay nào của đấng thiêng liêng đã xếp đặt.
 
Khi được báo lính Tây sắp về làng mẹ tôi phải dẫn bà nội và chúng tôi chạy qua làng khác, thường bằng thuyền vì nhà tôi ở xóm Miễu, rất gần bờ sông. Lính Tây về làng hay giết hại dân lành. Ba người chị của bố tôi đều có con và cháu bị giết chết. Bà chị cả có người con dâu và bốn con nhỏ bị lính Tây đem ra nghĩa địa gần nhà bắn chết, may có một đứa con nhỏ bị thương nên sống sót. Người chị thứ hai có đứa con trai đang cầy ruộng cũng bị bắn chết. Bà chị thứ ba thì người con trai chạy không kịp phải chui xuống hầm trốn cũng bị lính Tây quăng lựu đạn vào hầm giết chết.
 
Mẹ tôi sợ quá phải đem bà nội và chúng tôi ra tỉnh Nam Định rồi bà đi buôn trứng và trái cây để nuôi gia đình. Vì thế tôi và người anh hơn tôi một tuổi được theo học bậc tiểu học ở trường Bến Ngự. Tỉnh Nam Định hồi đó rất điêu tàn, vườn không nhà trống, vì bị đồng minh dội bom thời Nhật và lệnh tiêu thổ kháng chiến để chống Pháp. Thỉnh thoảng vào đêm lính Tây đi ruồng bố, bắt những kẻ tình nghi là Việt Minh đem ra đường gần trước nhà tôi để tra tấn rồi bắn chết với những tiếng kêu rú thảm thiết của người bị nạn.
 
Hai năm sau mẹ tôi đem bà nội và bốn đứa con ra tỉnh Hải Phòng đoàn tụ với bố tôi. Tại đây bà mở một cửa hàng tạp hóa và đại lý bán sỉ các loại nước giải khát để phụ bố tôi kiếm thêm lợi tức nuôi các con đi học. Năm 1954 tôi thi đậu bằng tiểu học thì hiệp định Geneve chia đôi đất nước nên phải di cư vào Nam.
 
Tại Sài Gòn mẹ tôi mở nhà hàng ăn tại đường Lacaze, sau đổi tên Việt là Nguyễn Tri Phương ở ngã sáu Chợ Lớn. Hồi đó người Pháp chưa rút hết ra khỏi Việt Nam nên đường xá còn mang tên Pháp như Boulevard Charner (đại lộ Nguyễn Huệ), Bonard (đường Lê Lợi). Sau đó gia đình tôi dọn về vùng trường đua ngựa Phú Thọ thì mẹ tôi lại mở quán bán cà phê, các thức uống và đồ ăn sáng cho đến năm 1975. Một số các giáo sư và học viên Nông Nông Súc Bảo Lộc đã có dịp đến quán này.
 
Biến cố tháng 4 năm 1975 mẹ tôi và mấy cô em gái bị kẹt lại trong nước. Sau đó mẹ tôi lo cho các con còn lại vượt biên nhưng mẹ tôi tới Hoa Kỳ sau chót do thân phụ tôi bảo lãnh. Qua Mỹ mẹ tôi vẫn đi chợ nấu cơm cho chồng con và chăm sóc các cháu.
 
Không may mẹ tôi bị bệnh Alzheimer đã gần hai chục năm nay. Có những lúc ngồi cạnh bên mẹ tôi mường tượng đến thời xa xưa khi mẹ tôi đi làm dâu lúc còn nhỏ tuổi. Không một thân nhân gần cạnh vì bố mẹ và các em đều ở trong miền Nam. Bao nhiêu những đắng cay, tủi nhục và khó khăn bên gia đình chồng, chẳng có ai để tâm sự, chia sẻ, phải một mình âm thầm chịu đựng.
 
Các bà mẹ VN trong thời phong kiến do trọng nam khinh nữ nên đã phải chịu nhiều thiệt thòi và bất công. Đã không được hưởng thời thanh xuân, đi làm dâu sớm rồi mang gánh nặng phục vụ chồng con với bao nỗi nhọc nhằn vất vả. Ngoài công việc đồng áng hoặc đi buôn bán rồi về nhà phải chăm sóc đàn con thơ dại với phương tiện nuôi con rất hạn hẹp so với thời nay. Thi sĩ Trần Tế Xương đã ca tụng và biết ơn phu nhân của ông bằng mấy câu thơ:
 
Quanh năm buôn bán ở quanh sông,
Nuôi nấng năm con với một chồng.
 
Ngoài ra không may cho đất nước ta phải chịu đựng qua hai cuộc chiến tranh Việt Pháp và cuộc nội chiến, huynh đệ tương tàn. Các bà mẹ Việt Nam phải chịu đựng sinh kế khó khăn và ngày đêm còn lo lắng cho sinh mạng chồng hay con đang chiến đấu trong vùng lửa đạn. Thi phẩm nổi tiếng của tác giả Đặng Trần Côn mà bà Đoàn Thị Điểm diễn nôm đã nói lên tâm trạng đau thương này:
 
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
 
Các bà mẹ Việt Nam ở thế hệ chúng ta đều phải được vinh danh là các bà mẹ vĩ đại. Cũng vì thế các thi sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ viết rất nhiều tác phẩm ca tụng người mẹ chứ rất ít tác phẩm ca tụng người cha. Nhà thơ Lưu Trọng Lư sáng tác bài thơ Nắng Mới để nhớ mẹ ông rất hay. Khi theo học bậc tiểu học tôi được thầy giáo dạy một bài thơ lục bát chủ đề về mẹ, không rõ tác giả và tôi cũng chỉ còn nhớ vài câu:
 
Chúng con là kẻ xa nhà,
Tình thương xa vắng mẹ nhà nơi quê.
Chiến tranh không hẹn ngày về,
Máu xương giữ trọn lời thề năm xưa.
------------------
Hôm qua nhớ cánh đồng vàng,
Nhớ người mẹ với muôn vàn tình thương.
 
 
Hình chụp năm 1950, lúc mẹ tôi 29 tuổi và tôi 8 tuổi. Đứng giữa là người chị cả. Mẹ tôi và người chị đều đã mất trong tháng 10 vừa qua.
 
Nắng Mới
 
Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác gà trưa gáy não nùng.
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Chập chờn sống lại những ngày không.
Tôi nhớ me tôi thưở thiếu thời,
Lúc người còn sống tôi lên mười.
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội.
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi,
Hình dáng me tôi chửa xóa mờ,
Hãy còn mường tượng bóng vào ra.
Nét cười đen nhánh sau tay áo,
Trong ánh trưa hè, trước giậu thưa.
(Thơ Lưu Trọng Lư)
 
Nguyễn Văn Khuy
Houston, 12 tháng 11, năm 2016