alt
      Dù một vài năm cùng nội trú trên Trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc nhưng không được quen biết Lộc, lần đầu tận mặt nhân dịp cả hai cùng đến dự Đại Hội 4, năm 2007. May cho tôi, một số bạn tá túc thêm vài ngày sau Đại Hội tại nhà Tư Lung có Lộc; và qua những câu chuyện trao đổi cho tôi biết anh là một tay "cà khịa" vào bậc thượng thừa. 
        Rõ! Trời cho anh biệt tài kể chuyện. Câu chuyện cưới vợ "lộn người" do khả năng "nhìn nghiêng mà thấy thẳng", từ ngôn từ, bộ tịch của anh đã làm cho người nghe chuyện được dịp cười nghiêng ngả. Bày bịa để mua vui nhưng lối kể tỉnh queo của anh đã làm nhiều người tin là chuyện thật.
      Nhân sau đôi lần tiếp anh em NLS Bảo Lộc tại nhà riêng có Lộc tham dự, Sâm nhắc nhớ, ngoài việc tấm tắc khen văn của Lộc, còn cho biết, "Lộc kể chuyện rất có duyên, dù đoán những gì hắn kể do chế ra nhưng vẫn cứ tin."
     Không riêng Sâm, nhân khi sang thăm tôi vào hè năm rồi, mấy cô em tôi mê chuyện kể của Lộc và kéo thêm những tràng cười no bụng,  mấy cô cứ liên tục hỏi tôi, "Thật không? Thật không?" 
     Khi mới gặp, tôi đã mến ngay cách  nói đẩy đưa, tỉnh bơ và trào lộng đặc biệt của Lộc. Chọc phá để bị ghét, bị mắng thì không khó mấy. Châm chọc  để mua vui, được những tràng cười thoả thê và được cảm mến thì mấy ai làm  được như Lộc. Phải là người thật thông minh, thật bén nhạy. Tôi phục lăn tài này của Lộc.
     Tình thân giữa chúng tôi nẩy dần để anh không ngại đường xa và tốn kém tìm đến thăm tôi dù chỉ sau một lần gặp gỡ và một vài trao đổi qua điện thoại. Tuy hậu hĩ, chiều đãi anh một cách tận tình nhưng với tính bộc trực, tôi bị anh quở trách hơi nhiều qua bài viết "Một Chuyến Đi Khô" đăng trên Đặc San 2008.
     Khi thân hơn tôi được biết một số điều về anh Lộc, xin ghi ra đây.
     Ra trại sau những năm dài " tù cải tạo", quẩn quanh, cùng túng trong thời quản chế, ngứa nghề, anh gởi ý tưởng của mình trên những trang giấy và gởi đăng báo. Không ngờ, anh đã nhập cuộc trong sinh hoạt văn nghệ thứ bảy, kiếm chút tiền mua trầu thuốc và rượu. Sau dần, tiền nhuận bút cũng phụ đỡ đôi chút với  bà vợ tần tảo lo cho đám con chắt chiu. Không rõ nghiệp văn chương ngày ấy kéo dài được bao năm?
     Khi định cư ở Mỹ, anh sáng tác rất đều cho Trang Nhà, Đặc San NLSBL và đang cộng tác với Tạp Chí Hướng Lên ở North Carolina.    
     Trước khi quen anh, tôi có dịp thích thú đọc một số bài viết và thầm khen ngôn từ và dòng văn riêng biệt của anh. Sau này, đọc thêm nhiều bài viết của anh với lời văn ngắn, gọn và ý tưởng thật sắc, thật bén, càng đọc càng thấm với ý tưởng thâm trầm, ý nhị và sâu sắc của một người khéo diễn đạt.
     Riêng thể loại truyện ngắn, anh dàn dựng câu chuyện theo đúng kỹ thuật, cách viết của một nhà văn chuyên nghiệp. Anh đưa người đọc trôi theo thời cảnh của câu chuyện. Ngôn từ qua những lời đối thoại rất tự nhiên, thật xứng hợp cho từng nhân vật. Tình tiết được kể trôi xuôi, dàn trải hợp lý làm người đọc, mải mê theo dõi, rung cảm và hoà sống với từng tâm cảnh của nhân vật.
     Cũng như hầu hết các nhà văn thành danh, anh đã khéo đem vào chuyện một ít tình tiết của cuộc đời thật, có thể là của chính anh hay của một ai mà anh bắt gặp trong cuộc sống. Cùng lúc biết phân thân, pha vào truyện những nhân vật, những tình tiết, dù đó là sản phẩm của tưởng tượng nhưng người đọc nhận thấy nhân vật được nhắc đến là một ai đó, đã bắt gặp hoặc rất gần gũi với mình. 
     Chi tiết và địa danh cũng được anh nghiên cứu thật kỹ. Là một người đến Mỹ định cư bằng máy bay, nhưng qua truyện "Cũng May" đã làm độc giả cứ ngỡ rằng, cuộc sống của nhân vật thuyền nhân và mối tình lãng mạn, tràn bờ, bùng vỡ chính là trải nghiệm của chính tác giả.
     Chuyển biến của câu chuyện được dẫn đi không gò ép, không làm dáng, tự nhiên với những trạng huống khó đoán trước, đã lôi cuốn người đọc theo dõi câu chuyện từ đầu đến cuối.
     Điều khá thú vị, kết của truyện Lộc viết thường là những bất ngờ, đôi khi hụt hẫng. Sau khi đọc hết những dòng cuối, ý nghĩ về truyện vẫn còn đó với ít nhiều vương vấn.
     Dòng kết của truyện "Cũng May" , nhân vật "hắn" trằn trọc nghe mùi ẩm mốc của chăn mền. Biết đâu,  đó chẳng  là mùi của tro than từ một quá khứ xa xôi, từ nỗi nhớ của cuộc tình lỡ trôi về?!
     Vả chăng, những gì anh gởi gắm được vào truyện của mình, theo thiển nghĩ, nhà văn chuyên nghiệp cũng mong đạt được chừng ấy. (Trang Nhà)

Cũng May

altHắn không ngờ gặp lại Nguyệt Liên ở đây.

Hắn vẫn thường nghe thiên hạ nói: Quả đất tròn. Nhưng tròn thì tròn chứ! Đâu phải dễ dầu gì mà gặp nhau như vậy? Nhất là đã chia tay nhau gần hai mươi năm rồi và chẳng ai có ý định tìm kiếm nhau. Tất cả tưởng chừng như chuyện đời xửa đời xưa rồi, tưởng chừng như quên hẳn rồi. Ấy vậy mà giờ đây còn gặp nhau làm cái gì nữa cho đời thêm éo le ra?

Nhưng để cho câu chuyện có đầu có đuôi thì có lẽ phải lùi thời gian lại khoảng hai mươi năm về trước.

oOo 

Khi ấy hắn vừa chân ướt chân ráo bước lên đảo sau bốn ngày lênh đênh trên biển. Hắn đi vượt biên cùng với thằng con trai đầu lòng mới mười tuổi.

Khi ấy hắn trông còn trẻ, chưa đến nỗi già. Chính xác thì mới ba mươi sáu tuổi. Tóc, râu còn đen mướt. Ngực nở, bụng thon, chân tay rắn chắc. Hắn chỉ phải cái tội là con bà Phước:  Không có người thân ở nước thứ ba để gởi tiền tiếp tế. Lương thực chủ yếu trông vào khẩu phần cung cấp của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc. Mà ở trong trại tỵ nạn, những người thuộc thành phần “mồ côi” như hắn đương nhiên sẽ bị xếp hạng dưới cùng , chẳng ai cần để ý hay hỏi han đến. Những người có nhận tiếp tế thì chơi với nhau, ăn chung với nhau, nấu nướng ì xèo, theo cái kiểu “ Kình nghê vui thú Kình nghê”, còn bọn hắn con bà Phước thì gom lại nằm chung một chỗ, nấu nước Nhãn Lồng lên thay trà ngồi uống với nhau ra vẻ: “ Tép tôm thì lại yên bề tép tôm”. 

Nằm cạnh hắn có ông Ba Trắng. Ông Ba Trắng là nông dân mấy đời làm ruộng ở đâu miệt Hậu Giang. Một buổi tối ông đi soi cá, thấy có ghe vượt biên đang lên khách, hứng chí ông nhảy đại lên ghe. Qua đây, nhớ vợ con ông khóc hu hu. Và ông không chịu được cái đói. Cả ngày ông cứ đi săm soi chung quanh "barrack" xem những ai nấu món gì, món gì rồi về kể lại cho những người nằm cạnh cùng nghe. Có lần ông đứng hẳn lên trên sạp, trên người mặc có mỗi cái quần xà lỏn màu đỏ, nhìn chăm chăm ra cửa sổ, hai cánh mũi phập phồng, ông nói trổng: 

“Trời ơi! Ra coi tụi con Út, con Sương nó chiên hột gà kìa bay! Thơm quá ta!”

Hắn phải quát lên với ông:

“Nằm xuống đi ông Ba ơi! Làm gì kỳ cục vậy? Người ta cười chết!”

Hắn không chịu được cái kiểu sống hoàn toàn lệ thuộc vào bản năng như vậy. Dù đói đến mấy hắn vẫn rất coi trọng sĩ diện. Hắn dịu dàng căn dặn thằng con hắn:

“Ai có cho con bất cứ món gì cũng đừng ăn nghe con. Hôm nay người ta cho, con có ăn. Ngày mai người ta không cho, con lấy gì ăn? Lúc đó con sẽ thèm thêm và chỉ mong sao có người lại cho con nữa. Như vậy xấu lắm, đừng nhe con. Rồi Ba sẽ tìm cách đi làm kiếm tiền để mua đồ ăn cho con.” 

Và hắn đã làm đúng như thế. Hắn lò dò lên Phòng Thông Tin của Ban Đại Diện trại, dán lên đó tờ giấy “ Nhận dạy kèm Anh Văn”. Bởi vì hắn giỏi môn Sinh Ngữ từ hồi còn học trung học, rồi sau này khi bị bắt đi học tập cải tạo, hắn đã dùng toàn bộ thời gian năm năm trời đó để ôn luyện thêm tiếng Anh, cho nên có thể nói môn Anh Văn hắn thạo, đủ để bây giờ đem đi đổi chác lấy một ít vật chất đáp ứng cho nhu cầu trước mắt. 

Dán tờ giấy hôm trước thì hôm sau có mối ngay. Một bà mẹ nhờ hắn chỉ dạy Anh Văn cho hai đứa con gái nhỏ của bà. Đổi lại bà sẽ nấu cơm cho hai cha con cùng ăn chung với gia đình bà. Hắn xem như đây là thắng lợi bước đầu, bởi dù không được trả tiền, thì ít ra con hắn sẽ có thêm thức ăn và chất bổ dưỡng vào người, còn hắn sẽ thoát khỏi cảnh chen chúc trong nhà bếp với bao nhiêu phụ nữ khác, chỉ để nấu nồi cơm ăn với cá mòi hộp Trại phát. Nấu cơm thì hắn không ngại, nhưng phải tranh dành bếp Rề-xô với các bà các cô thì hắn chịu. Hắn mắc cở và lần nào cũng chịu thiệt thòi là nấu sau cùng. Những lúc ấy hắn nhớ vợ hắn, người vợ gầy còm và chịu thương chịu khó. Đêm tiễn đưa hai cha con hắn ra đi, vợ hắn tay bồng đứa con út ,người lâu lâu lại run lên vì đang bị cảm sốt, nàng cứ nhìn hắn rồi nhìn thằng con trai lớn mà chẳng nói lên được lời nào…Hình ảnh này ăn sâu vào trí não hắn đến độ bây giờ mỗi khi nhớ đến vợ, hắn chỉ thấy hình ảnh này hiện ra và làm nỗi nhớ vợ của hắn thêm chua xót, buồn tẻ. 

Dạy hai đứa bé học được một thời gian ngắn thì hắn mới nhận ra cái miệng của bà mẹ quả là lợi hại. Bà đi cùng khắp các dãy Barrack trong trại để khoe sự siêng năng học hành của hai đứa con gái bà, đồng thời bà cũng thổi phồng lên rằng hắn là một thầy giáo dạy rất hay và tận tụy nữa. Thế là “tiếng lành đồn xa”, người ta bắt đầu tìm tới hắn để nhờ dạy kèm. Già có, trẻ có. Hắn còn đang phân vân, chưa dám nhận lời ai cả, thì một buổi chiều có hai người thanh niên đến, nhìn mặt biết ngay họ là người Hoa. Họ lễ phép đặt cây thuốc lá Garam và mấy hộp sữa bò xuống chỗ nằm của hắn, sau đó một trong hai người nói giọng lơ lớ với hắn rằng: Nhóm của họ gồm năm người, toàn là người Triều Châu, cùng đi chung trên chiếc tàu vượt biên từ Sóc Trăng, nay muốn tổ chức một lớp học riêng và xin thỉnh hắn tới làm thầy giáo. Rằng họ sẽ tự đóng bàn ghế, bảng đen và hùn tiền lại để trả công cho thầy mỗi tháng. Nghe sướng quá, lại thêm sẵn có cảm tình với người Hoa, hắn nhận lời ngay tắp lự.

Và thế là, một cách hết sức bất tự giác, cuộc đời của hắn chút xíu nữa là đi vào ngã rẽ.

Bởi vì trong cái lớp học năm người đó, có một người là phụ nữ, nàng tên là Trần Nguyệt Liên.  

altNguyệt Liên không phải là người Hoa rặt. Có thể đời ông cố, ông sơ là người Tiều, nhưng đến đời nàng thì hết rồi, bây giờ tiếng Tiều nàng có thể nghe được loáng thoáng nhưng nói thì không được. Nàng đã có chồng người Việt làm nghề Thú Y ở Sóc Trăng. Hai vợ chồng ở với nhau sáu năm rồi mà vẫn chưa có con. Cách đây hơn hai năm chồng nàng vượt biên một mình thoát, nay đang định cư ở Mỹ. Ở nhà chờ đợi bảo lãnh thì không biết đến bao giờ, cho nên sẵn có chỗ quen biết đóng tàu đi, Nguyệt Liên đã đóng vàng cho người ta để mau chóng được qua chung sống với chồng.

Mà nhìn tướng Nguyệt Liên người ta dễ dàng công nhận rằng nàng cần phải có  một người chồng ở bên cạnh: Dáng người cứ hây hẩy, da trắng nhễ nhại, miệng lúc nào cũng cười được, những đường cong đằng trước và đằng sau thì khỏi nói, chúng cứ đập vào mắt người ta. Chẳng thế mà bọn con trai du đãng ở trên đảo mỗi khi nói về nàng đều xài câu: Người đẹp điện nước đầy đủ… 

Nếu Nguyệt Liên chỉ đẹp không thôi thì không có vấn đề gì với hắn. Đời hắn đã nhìn thấy nhiều  người đẹp rồi. Nhưng cái khổ tâm cho hắn là lúc nào Nguyệt Liên cũng mặc áo hở cổ. Cái cổ áo khóet thật sâu, mà nàng lại ngồi học ở cái bàn con thấp thấp đóng bằng mấy tấm ván ép, trong khi hắn phải đứng để giảng bài. Năm cái bàn con kê liền nhau thành một hàng, năm cái đầu cúi xuống ghi ghi, chép chép. Đứng cạnh bảng đen kê dựa vào một gốc cây gần đó, hắn không muốn nhìn cũng có lúc vô tình phải thấy. Hắn thấy trên cái cổ trắng ngần của Nguyệt Liên có đeo sợi dây chuyền, mặt dây chuyền hình quả tim lúc thì thấy được, lúc thì chìm sâu vào trong khe ngực…Hắn ngại ngùng và khổ tâm lắm nhưng chẳng biết làm sao bây giờ. Nói Nguyệt Liên đi thay áo chăng? Người ta tự ái lên người ta chửi vào mặt thì sao? Nghỉ dạy chăng? Đâu được! Tiền thù lao hậu hĩnh lắm và thằng con hắn lúc nào cũng thèm ăn, Lại còn bốn người kia! Vô lý khi không bỏ rơi họ chỉ vì cái áo hở cổ? Còn nếu cứ nhắm mắt vô tư liếc nhìn thỏai mái thì hắn lại thấy tội nghiệp vợ hắn. Giờ này ở nhà chắc vợ hắn cũng đang nhớ hắn lắm. Vợ hắn cắt lòng cho hắn đi vượt biên là để sau này cứu hết cả nhà chứ không phải cho hắn đi để liếc nhìn đàn bà thoải mái. Cuối cùng hắn vẫn cứ đi dạy và thừa nhận với chính bản thân hắn rằng hai tiếng đồng hồ dạy Anh văn cho nhóm người Hoa này là hai tiếng đồng hồ căng thẳng nhất trong ngày.Hắn quyết phải giữ lấy mình.

Mà thật ra họ đối xử với hắn rất tốt, rất kính trọng, không chê vào đâu được. Sau giờ dạy, bọn họ thường mời hắn ngồi lại uống nước trà, ăn bánh kẹo và nói dóc… Chỉ là những câu chuyện tầm phào. A Cường (tên của người trưởng nhóm, một thanh niên khỏang trên hai mươi, hiền như cục đất) hỏi: 

-Thầy tính xin đi nước nào?

-Tôi cựu quân nhân, có giấy tờ cải tạo, chắc thế nào Mỹ cũng nhận.

Nguyệt Liên hỏi, miệng lại cười hơ hớ, hai hàm răng trắng bóc:

-Thầy có nhớ Cô không Thầy?         

Hắn nói bông lơn:

-Nhớ chứ! Cũng có lúc nhớ chứ!

A Bánh, một học trò khác xen ngang:

         -Trên đảo này người ta “đẩy xe” búa xua, Thầy có “đẩy xe” không Thầy? 

          Cả nhóm cười ồ. “Đẩy xe” là tiếng lóng dân trên đảo dùng để chỉ việc tán gái và cặp bồ với nhau. Không cần đợi hắn trả lời, Nguyệt Liên nhanh chóng nói chen vào:         

         -Chắc có chứ, tại tụi mình không thấy.Giỏi như Thầy thiếu gì cô mê. 

Hắn chỉ cười trừ.                                                         

oOo         

          Mặc dù các đảo có trại tỵ nạn đã tuyên bố đóng cửa gần một nămalt nay nhưng dòng người vượt biên vẫn ồ ạt đổ tới. Hòn đảo Galang bé tí xíu của đất nước Indonesia nay đang chứa hơn hai chục ngàn thuyền nhân. Từ Galang 1 tới Galang 2 các Barrack chật cứng, người ta đã phải cho cất lên các lán trại khổng lồ để có chỗ nhét thuyền nhân vào. Không như hồi đảo còn mở cửa, người tỵ nạn chỉ ở có mấy tháng là được các nước thứ ba tới nhận ngay, giờ đây tất cả những người tỵ nạn chậm chân, trong số đó có hắn, sẽ phải trải qua một cuộc thanh lọc, xem ai đủ điều kiện để được đi nước thứ ba, ai sẽ phải trở về Việt Nam (hoặc tình nguyện hoặc cưỡng bức). Thời gian chờ đợi để được thanh lọc thường là từ hai tới ba năm. Trong thời gian chờ đợi đó, con người ta vẫn phải sống theo nhu cầu của một cuộc sống đời thường: Ăn, ngủ, học hành, giải trí, đánh nhau, tự tử, làm tình, sinh con đẻ cái… 

         Kể cả đón mừng Chúa Giáng Sinh. 

        Thì chỉ còn hơn tuần lể nữa thì tới Noel. Trên Ban Đại Diện Trại, không biết ai kiếm đâu ra được mấy băng nhạc Giáng Sinh và cho loa phát thanh suốt ngày khiến cho bầu không khí toàn trại cứ tưng bừng, phấn khích. 

         Tới lúc này thì hắn đã dạy gần hết cuốn một của bộ English 900 và những giờ dạy đối với hắn tự nhiên không còn căng thẳng như trước nữa. Hình như theo thời gian, hắn đã quen với tánh tình thân mật của Nguyệt Liên. Thậm chí hắn còn cảm thấy thích thú, rạo rực mỗi khi tới ngồi bên cạnh Nguyệt Liên để khảo bài Test. Ngồi sát cạnh nàng bên chiếc bàn con, nghe thoang thoảng mùi nước hoa (Rõ ràng là mùi nước hoa, không phải là mùi da thịt, các ông nhà văn Việt Nam mình chỉ bịa, làm gì có mùi da thịt?) hắn vừa khảo bài mà tim hắn đập thình thịch, sao lạ vậy? Đúng ra người bị khảo bài mới hồi hộp, tim mới đập thình thịch, chứ sao lại là hắn? Những lúc ấy hắn đã phải cố gắng tự kìm chế để giữ cho vẻ bề ngoài được tự nhiên, như không có gì hết. Hắn không muốn bốn người học trò kia nhìn thấy tình trạng khốn nạn của hắn.Với vẻ mặt lạnh như tiền, hắn đi qua bàn bên cạnh để khảo bài, trong khi thật ra hồn vía của hắn vẫn ở lại bên cạnh chỗ cội nguồn nước hoa.

         Nhưng làm sao bịt mắt thiên hạ được? Danh ngôn có câu: “Trên đời có hai thứ không thể giấu được, đó là tình yêu và khói”. Cả bốn tay học trò kia tuy không nói ra nhưng hình như họ đều biết hết ruột gan của hắn. Họ lờ đi đấy thôi, họ vui vẻ tạo điều kiện cho Thầy và A Nói “đẩy xe” (A Nói là Liên theo cách gọi của người Tiều). 

         Cái buổi học cuối trước khi nghỉ lễ Noel, trong tiếng nhạc oang oang từ loa phát ra “ Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…”  A Cường gãi đầu gãi tai mời hắn và toàn lớp học ăn liên hoan vào buổi tối tại quán cà phê trên đồi. Hắn ừ, hai má của Nguyệt Liên đỏ rựng lên. 

        Tối đó bọn hắn ngồi ở vườn sau của quán, quang đãng, mát mẻ. Ngoài  nước cam cho A Nói, còn tất cả Thầy trò đều uống bia Heineken. Cũng chỉ là những mẩu chuyện vui vẻ, nhưng rõ ràng tên hắn và tên A Nói được đề cập đến hơi nhiều. Bằng cách nói xa xôi, hứng khởi, họ muốn vun vào chuyện hai người. Khó lòng chối cãi được, hắn vờ vịt bắt qua chuyện khác. Nguyệt Liên thì vừa cười vừa chống chế, lấy tay nhéo những kẻ dám lộ ra một phần nào bí mật. 

        Đến lúc kêu tính tiền về, hắn đã ngà ngà say. Cả bọn bước ra, Nguyệt Liên và hắn cố tình đi chậm lại. Đến lúc chỉ còn hai người với nhau, Nguyệt Liên nhìn sâu vào mắt hắn, nói: 

        -Đêm Noel em sẽ đi dự lễ nửa đêm ở nhà thờ Galang 2, Thầy đi với em được không? Em sợ đi một mình về khuya lỡ có gì… 

        Hắn nhìn kỹ vào khuôn mặt mà bấy lâu nay hắn chỉ dám nhìn lén, men rượu hay máu đang sôi lên trong người hắn, không kềm được nữa, hắn đưa hai tay lên ôm lấy khuôn mặt đã đẹp lại càng đẹp hơn dưới ánh sáng lờ mờ của những ngọn đèn bóng tròn giăng xa xa:

       -Ừ! Tôi sẽ đi với em

       Hắn vẫn chưa thể nào xưng anh em, (và hắn cứ tôi tôi, em em cho đến tận ngày chia xa).Nguyệt Liên đưa tay lên giữ mãi tay hắn trên mặt nàng:

      -Hứa nhe Thầy!

      -Ừ tôi hứa mà.

      Hắn rụt tay lại, liếc thật nhanh xem có ai bắt gặp “khỏanh khắc thần kỳ” vừa rồi không, và bước thật nhanh ra khỏi quán. 

      Đêm đó, bên cạnh cảm giác bồi hồi vì khuôn mặt Nguyệt Liên vừa ở trong tay mình, hắn còn có cảm giác ân hận, xấu hổ. Hắn cảm thấy hình như hắn đang phản bội vợ hắn. Rõ ràng chứ còn hình như gì nữa! Nếu đây không là sự phản bội thì cái gì mới là sự phản bội? Vợ hắn tin nơi hắn như tin vào cái cột nhà vững chãi. Hắn phải sống cho xứng đáng với niềm tin đó chứ! Hắn mụ mị đi vì sự dày vò, hắn ngủ thiếp đi trong sự dày vò. Nhưng trong đêm khuya hay lúc về sáng, mở mắt ra tỉnh giấc thì hình ảnh đầu tiên hiện lên trong óc hắn lại là khuôn mặt vừa xa vời vừa gần gũi của Nguyệt Liên. Đó là thực tế không thể chối cãi được và hắn biết, đó cũng là nỗi nguy chết người của hắn. 

     Biết vậy nhưng đêm Noel hắn vẫn đi. Không phải đi cùng Nguyệt Liên tới nhà thờ như dự tính ban đầu, mà hắn đã kịp cải chính lại với Nguyệt Liên là hắn chỉ có thể tới đón nàng về được thôi. Lý do vì hắn còn phải đưa thằng con trai tới dự tiệc Giáng Sinh tại Barrack của gia đình hai đứa nhỏ học trò. Hắn không nỡ tước đoạt của con hắn một niềm vui hiếm hoi trên đảo. Trong suốt thời gian tiệc tùng hắn sốt ruột, bồn chồn ngồi nhìn con hắn thơ ngây đùa giỡn với hai đứa nhỏ. Rồi thằng bé hớn hở làm sao khi chạy lại khoe hắn món quà Noel mà bà mẹ keo kiệt kia vừa tặng cho nó: Một cái ly uống nước bằng nhựa dỏm. 

      Đưa thằng bé về, dỗ nó ngủ xong, hắn tất tả cầm cây dù ( hắn cẩn thận đề phòng trời mưa, sợ Nguyệt Liên bị ướt) nhập vào dòng người đang lao xao đi về hướng Galang 2. Tới nhà thờ, bên trong vẫn còn đang làm lễ, hắn đứng nép vào một chỗ tối đối diện nhà thờ và đưa mắt lên nhìn bầu trời đầy sao. Hắn thích nhìn sao, vợ hắn cũng rất thích nhìn sao, đã có lần trong lúc hai vợ chồng mải mê ngắm sao, kẻ trộm đã nẫng đi mất cái xe đạp vợ hắn dựng hớ hênh trước cửa nhà…Nhưng thôi! Hắn không nghĩ tiếp nữa, trong hoàn cảnh này mà nghĩ tới vợ thì nham nhở quá, hắn không chịu được sự nham nhở quá trắng trợn. 

       Buổi lễ dù có kéo dài cách mấy cũng có lúc xong. Nguyệt Liên bước ra đưa mắt tìm kiếm hắn. Nhìn thấy Nguyệt Liên tim hắn lạnh toát đi: Nàng đẹp quá! Tối nay nàng đẹp quá! Sự trang điểm và bộ quần áo cắt khéo đã nhân sắc đẹp của nàng lên nhiều lần. Nguyệt Liên đã nhìn thấy hắn và ngay lập tức hai bàn tay quấn quýt đan chặt vào nhau. Hắn kéo Nguyệt Liên ngồi xuống tảng đá to khuất sau một gốc cây, hắn thì thầm:

alt-Ngồi đây chờ chút vắng người rồi hãy về.

-Nãy giờ em chỉ sợ Thầy không đến.

-Đến chứ sao không.

Nguyệt Liên đặt tay hắn lên đùi nàng, trong bóng tối đôi mắt nàng trong veo:

-Thầy biết không, đây là lần đầu tiên trong đời em, đi lễ Noel mà có người đưa đón.

       -Thế chồng em đâu? Rồi trước khi lấy chồng chắc em cũng có nhiều người theo đuổi chứ?

       -Ủa! Vậy là tụi A Cường không kể chuyện em cho Thầy nghe hả? 

       Hắn đưa tay quàng qua vai Nguyệt Liên và kéo sát vào hắn khiến cho mấy lọn tóc lòa xòa của nàng vương vãi trên mặt hắn. Có gì đâu, hắn đang thèm hít thở mùi nước hoa quen thuộc:         

       -Tụi nó có kể gì đâu, bây giờ em kể cho tôi nghe đi.         

       Nguyệt Liên vẫn dựa đầu trên ngực hắn, giọng nàng cứ tự nhiên như đang kể chuyện đời của ai khác chứ không phải chuyện nàng: 

      -Em khổ lắm Thầy không biết đâu, khổ từ thời con gái. Trước 75 ba má em làm ruộng mướn. Giải Phóng vô, tưởng sao, còn nghèo ác nữa. Cấp đó có mấy người theo em, họ theo dữ lắm, nhưng tất cả đều nghèo. Em đâu có chịu. Sau ba má em làm mướn cho nhà ông Ba Nâu, nhà ổng giàu lắm, ổng có bà con làm lớn trên Ủy Ban Huyện, em hay chạy qua bển chơi hoặc để nhắn công chuyện cho ba má em. Ông Ba Nâu thương em lắm, ổng muốn nói chuyện với ba má xin cưới em cho con trai ổng. Ổng có một  người con hà. Ba má em mừng lắm. Dì Ba em nói “Chuột sa hũ nếp”. Em đâu có thương Hai Phú hồi nào đâu, cái mặt khô khốc hà, nhìn không có cảm tình, nhưng em nghĩ về ở vợ chồng riết rồi chắc cũng thương nhau…         

        -Sao em liều mạng vậy? 

        Nguyệt Liên chừng như không nghe, nàng vẫn kể với giọng đều đều:

        -Ai dè làm vợ ảnh rồi mới biết ảnh chỉ mê đá gà. Tánh tình thì vũ phu. Ảnh đánh em dữ lắm, mỗi lần ảnh thua độ gà em sợ lắm, thể nào em cũng bị đòn. Em uống thuốc rầy tự tử một lần rồi đó chớ, mà không chết được. Sau độ đó ba chồng em canh kỹ lắm, không cho ảnh đánh em nữa…Ảnh hay bỏ nhà qua các xã khác đá gà có khi cả tuần lễ mới về, ngủ với em vài quận, kiếm chuyện ghen tuông táng em mấy bạt tai rồi đi nữa…Em cắn răng chịu không dám thở than với ai hết, bởi sau lần tự tử hụt, má em xỉu rồi đổ bịnh luôn, em không dám làm ba má em buồn thêm. Cách nay hai năm ảnh bỏ em một mình đi vượt biên, em cũng không buồn, cũng vẫn tỉnh bơ ở nhà với ba má ảnh làm phận con dâu. Qua Mỹ rồi chắc ảnh không kiếm được bà nào nên gởi thư về kêu em vượt biên. Cấp sau này ảnh nói nhớ nhớ thương thương và gởi tiền cho em dữ lắm, nhưng lòng em đã nguội lạnh rồi, qua bển trước sau gì em cũng ly dị với ảnh… 

         Hắn nâng khuôn mặt xinh đẹp của Nguyệt Liên lên nhìn, trong bóng tối, đôi mắt nàng đầy lệ. Tim hắn lại lạnh toát vì hoảng sợ. Hắn rất sợ nước mắt của phụ nữ. Ở nhà thỉnh thoảng gây gỗ với vợ, vợ hắn chỉ cần khóc lên là hắn chịu thua ngay, đầu hàng vô điều kiện. 

          -Đừng khóc, em… 

          Và hắn hôn lên mắt nàng. Nguyệt Liên xoay người ôm ghì lấy hắn. Đôi môi nàng tìm môi hắn. Hai người hôn nhau cuồng nhiệt, cảnh vật chung quanh, kể cả các vì sao không còn tồn tại…Hôn được một lúc thì hắn chán, hắn áp khuôn mặt vẫn còn đẫm nước mắt của Nguyệt Liên  vào ngực mình và tranh thủ lấy lại nhịp thở. Trong cái đầu óc hay suy nghĩ của hắn lại bật ra ý nghĩ : Các ông nhà văn, nhà thơ chỉ toàn nói dóc: “Gửi tới em một ngàn nụ hôn”, làm sao hôn được tới một ngàn cái? Chắc các ông ấy chưa bao giờ hôn lâu như hắn hôn vừa rồi nên các ông ấy không biết rằng hôn cũng mỏi miệng lắm, và lại khó thở nữa, các ông ấy chỉ ngồi một chỗ và bịa ra thôi…Sau khi chờ cho nhịp thở hắn đã đều đặn lại, hắn đứng lên:

         -Thôi về em, khuya rồi đấy.

          Nguyệt Liên vẫn chưa muốn về nhưng như một con mèo ngoan ngoãn, nàng vịn tay hắn đứng dậy. Đi được vài bước, tới chỗ có ánh sáng đèn, nhìn thấy rõ dáng người hấp dẫn của Nguyệt Liên, hắn lại tiếc, hắn lại ôm lấy nàng và hôn thêm một chập lâu nữa.

          Rồi hai người im lặng đi bên nhau, chung quanh là tiếng thì thào của cây lá.

         Ngang qua Galang 3, (tức là khu nghĩa trang chôn những người Việt tỵ nạn xấu số đã bỏ mạng ở hòn đảo này) đây cũng là chỗ chia tay,nàng sẽ quẹo trái, còn hắn phải đi thẳng thêm một khúc nữa. Nguyệt Liên chợt lên tiếng:

          -Em nói Thầy nghe cái này nha!

           -Gì vậy em? Nói đi.

           -Em tính mua lại một cái chòi rồi em với Thầy ở chung.

           Hắn tá hỏa tam tinh, hắn chưa bao giờ nghĩ tới điều đó. Hắn buột miệng:

           -Ồ! Đừng! Không được đâu em.

           -Sao lại không được? Thầy không thương em sao?

           -Thương chứ, nhưng chuyện này mình phải suy nghĩ kỹ, không thể quyết định vội vàng được.

          Nguyệt Liên nhìn thẳng vào hắn, trên khuôn mặt nàng hiện lên những nét thách thức và cương nghị lần đầu tiên hắn thấy:

          -Em yêu Thầy. Thầy là tình yêu đầu đời của em. Thầy cứ về suy nghĩ đi. Em biết Thầy có vợ rồi, em biết sau khi rời khỏi đảo này thì Thầy sẽ trở về với vợ Thầy nhưng em vẫn muốn sống chung với Thầy trong thời gian tạm bợ ở đây. Em muốn được sống hạnh phúc trọn vẹn với tình yêu mà nhờ Thầy em mới biết được.

          Nghe những lời hoa mỹ của Nguyệt Liên hắn vẫn cứ đứng ngớ người ra, bởi vì hắn vẫn còn đang hoảng hốt với cái ý nghĩ táo bạo của Nguyệt Liên. Nguyệt Liên buông tay hắn ra và quay người bước đi, còn hắn vẫn đứng như trời trồng, cả hai không ai nghĩ đến chuyện cho nhau cái hôn tạm biệt.         

          Nguyệt Liên đã đi khuất vào trong khu barrack lâu lắm rồi hắn mới lững thững thả bộ về, đầu óc hắn quay cuồng với bao ý nghĩ. Hắn thấy tình hình đang trở nên phức tạp, hắn thấy hình như hắn đang đùa giỡn với một thứ chẳng bao giờ nên đùa giỡn, đó là tình yêu. Ra mặt sống chung như vợ chồng với Nguyệt Liên làm sao được? Rồi lỡ có con với nhau thì làm sao? Hắn vẫn yêu thương vợ hắn lắm. Hắn tự trách hắn đã yếu lòng để dây dưa vào chuyện tình cảm với Nguyệt Liên. Hắn chua chát nghĩ tới câu: “Người ta lấy lửa thử vàng, lấy vàng thử đàn bà, và lấy đàn bà thử đàn ông”, thì ra hắn kém cỏi đến như vậy, trong khi vợ hắn vẫn tin vào bản lãnh và lòng lương thiện của hắn, vẫn ngước mắt trông chờ vào mọi quyết định của hắn mỗi khi đời sống gia đình gặp chuyện khó khăn.alt

        Không! Đây chính là lúc mà hắn phải quyết định. Và phải quyết định cho đúng. Hắn thấy cần phải chấm dứt ngay thôi. Không thể lập lờ thêm nữa, hậu quả sẽ khó lường. Cho dù Nguyệt Liên có đánh giá hắn là hèn nhát, là sợ trách nhiệm thì cũng đáng đời hắn thôi. Chỉ tội Nguyệt Liên sẽ còn đau khổ nhiều với mối tình đầu vừa chớm nở như nàng nói. Nhưng điều này chưa chắc đã là sự thật. Tình yêu thật sự luôn luôn làm con người đẹp hơn lên, tốt hơn lên. Còn đây, hai gia đình sẽ bị tan nát thì có gọi là tình yêu được không? Hay chỉ là tình cảm bồng bột nhất thời núp dưới  vỏ bọc tình yêu? Hay có khi còn là sự khao khát trả thù Hai Phú, thằng chồng đốn mạt và vũ phu của nàng.

       Một ngày nặng nề với bao suy nghĩ, ưu tư, giằng xé trôi qua.

     Qua ngày thứ hai, hắn quyết tâm bắt tay vào thực hiện kế họach đánh bài chuồn, còn gọi là kế họach “bỏ của chạy lấy người”: Hắn viết thư cho Nguyệt Liên cho biết không thể ra chòi ở với nàng được, hắn không có ý định phản bội vợ hắn,  hai người tốt nhất không nên gặp nhau nữa, chỉ làm khổ nhau...  Hắn nhận lỗi hết, hắn xin lỗi cả những cái hôn đêm Noel. Hắn nhắn A Cường tới để báo cho biết là hắn phải lên Ban Đại Diện Trại làm việc full time, cho nên không thể tiếp tục dạy học được nữa. A Cường cười. Hắn biết đối với đám học trò người Tiều này hắn chẳng còn uy tín gì nữa. Và hắn cố tránh mặt Nguyệt Liên. Có việc phải đi đâu ra đường là hắn nhìn trước, ngó sau, cứ như một thằng kẻ trộm. Vậy mà sau này có một hai lần chút xíu là chạm mặt nhau, may mà hắn thấy trước, hắn thấy Nguyệt Liên xách giỏ đi chợ, tấm áo hở cổ mỏng manh bay trong gió, đang cười hơ hớ với cô bạn đi bên cạnh, hắn lủi nhanh vào đám đông…       

          Nhưng “tình hình Cuba đang căng thẳng” này chỉ kéo dài hơn nửa năm thì Nguyệt Liên lên đường đi định cư ở Mỹ. Trước hôm rời đảo nàng mở party khá lớn. Hắn không được mời, nhưng không sao, càng tốt cho hắn.                                     

oOo

          Vài tháng sau thì tới phiên hắn được phái đòan Mỹ nhận. Qua Mỹ, đầu tiên hắn đi rửa chén, sau xin được một job ổn định và lâu dài hơn, đó là quét dọn trường học cho chính phủ Tiểu Bang. Hắn ky cóp dành dụm tiền. Bảo lãnh vợ con hắn qua. Mua được căn nhà trả góp. Dựng vợ gả chồng cho hai thằng con trai. Chăm chút, chiều chuộng mấy đứa cháu Nội. Tóc mỗi ngày mỗi bạc theo năm tháng. Càng về già hắn lại càng thấy yêu mến cuộc sống hơn…Weekend hắn hay chở vợ đi chơi loanh quanh đâu đó. Bù lại, thỉnh thoảng vợ hắn cũng thả cho hắn vui chơi với bạn bè.

          Như kỳ vừa rồi hắn đi Cali để họp mặt cựu học sinh Trung học. Thằng bạn nối khố của hắn năm Đệ Tứ, Nguyễn Thành Tài, nay là một Bác Sĩ ở Quận Cam, đánh xe đón hắn tại phi trường. Hắn định mướn phòng ngủ nhưng bạn hắn không cho. Bạn hắn nói:

           -Nhà tao rộng, có hai vợ chồng thôi, đâu có con cái gì đâu, mày đừng ngại.

           -Mày không có con cái gì hết à?

           -Không! Tại tao học ra Bác Sĩ rồi mới lấy vợ. Lúc đó tao cũng trên bốn mươi rồi, cho nên cũng hơi khó có con.

          Tới nhà Nguyễn Thành Tài, vợ Tài chạy ra cửa chào. Vừa nhìn thấy vợ Tài hắn nhận ngay ra là Nguyệt Liên: Già đi có, tóc thưa đi có, nhưng những đường nét đẹp sắc sảo vẫn còn, làn da trắng muốt vẫn còn. Nguyệt Liên chừng như chưa nhận ra hắn, bởi hắn bị già trước tuổi, tóc rụng hết rồi, đầu sói từ trước ra sau. Nàng nhìn hắn chăm chăm, cho tới khi bạn hắn giới thiệu: “Đây bà xã tao! Còn đây là anh Khuê, bạn nối khố của anh”. Vừa nghe tới tên hắn, khuôn mặt Nguyệt Liên biến đổi ngay, trong tíc tắc hắn đọc được ở đó sự căm giận lẫn khinh bỉ tột độ nàng dành cho hắn. Sau khi nói “Chào anh” Nguyệt Liên quay người bỏ vào nhà trong. Bạn hắn tất nhiên đâu biết chuyện gì nên vẫn vô tư:

           -Để tao dẫn mày vào phòng cất vali rồi ra ăn cơm với vợ chồng tao.

           Hắn lúng túng tìm cách thóai thác:

           -Thôi không cơm nước gì đâu, tao còn no lắm, mới ăn trên máy bay. Tao chỉ ghé nhà mày cho biết thôi. Bọn mình hút điếu thuốc rồi mày chở tao ra khách sạn là hay nhất. Tao hút thuốc bạo lắm, nhất là lúc trước khi đi ngủ, cứ đi ra đi vô lịch kịch lắm. Cho nên mày cứ để tao ở khách sạn là thoải mái cho tao nhất.

           -Ừ! Mày nhất định vậy thì tao đành chịu, ngồi chơi chút đã…

          Ngồi hút thuốc với bạn mà lòng hắn cứ bồn chồn, bất an. Cảm giác xấu hổ làm da mặt hắn như dầy lên… Chỉ tới khi hắn đã nằm trên cái giường không lấy gì là sạch sẽ của Motel 6 rồi hắn mới bình tĩnh ôn lại toàn bộ câu chuyện của hai mươi năm về trước và hắn  thấy cũng may cho hắn là lúc đó hắn đã quyết định đúng. Chứ nếu không, cuộc đời của hắn và Nguyệt Liên sẽ còn nhiều chuyện éo le. Cũng may cho hắn nên giờ đây gia đình hắn còn được vẹn toàn, giờ đây hắn vẫn có thể nhìn thẳng vào mắt vợ hắn mà không thấy ngượng, và cũng may cho Nguyệt Liên giờ đây đã lấy được người chồng Bác sĩ hiền khô, giàu có hơn hắn gấp một trăm lần, bằng chứng rõ ràng là tối nay hắn không có tiền để ngủ ở Hilton mà phải chui vào đây.

          Hắn kéo tấm mền lên ngang ngực và chợt nghe mùi ẩm mốc bốc lên.

Dương Phú Lộc 

Cùng Tác Giả / Đề Tài