Bấm nút điều khiển nghe lời ngâm Đào Thuý bài thơ "Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười" của Trần Trung Đạo
 
Cha tôi mất đã lâu, còn mẹ tôi mới mất cách nay khoảng hai năm. Đâm ra ở tuổi sáu mươi, tôi bỗng dưng thành kẻ mồ côi cả cha lẩn mẹ.

Cũng có những hôm lòng chợt nhớ mẹ cha héo hắt nhưng chẳng làm gì được, đành phải kỳ vọng vào những giấc mơ, mà chuyện này ít xảy ra, tôi không dám chắc một năm tôi gặp lại được cha mẹ mình trong giấc ngủ hai hoặc ba lần. Những hình ảnh nhạt nhoà, mong manh như sương khói, tỉnh giấc rồi chẳng nhớ được gì nhiều ngoài nỗi tiếc nuối xót xa.

Cho nên quanh đi quẩn lại tôi cứ nhớ về quá khứ, nhớ lúc cha mẹ còn sống với mình.

 Tôi nhớ thời niên thiếu hay chạy ra sạp bán hàng của mẹ ngoài chợ Bàn Cờ để ăn vụng táo khô, nho khô, xong còn lén lấy đầy một túi về chia cho bạn. Chắc mẹ biết chứ sao không biết, nhưng chẳng bao giờ bị la.

 Lớn hơn một chút, đi học Đệ Lục trường trung học công lập Trần Lục. Một hôm đi chơi về, mẹ đang quét sân ngừng chổi quét: “Mày chết! Có giấy nhà trường đòi đuổi học mày đây này. Tao mà không dấu được, bố mày thấy thì ông ấy giết mày “. Tôi lo sốt vó, may quá lúc ấy trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc lại đang cho thi tuyển vào lớp Đệ Ngũ, thế là tôi nộp đơn, thi đậu và cứu được một bàn thua trông thấy.

 Đến tuổi nhập ngũ, tôi vào lính. Hôm ở quân trường Đồng Đế, nhận được lá thư đầu tiên của mẹ. Lá thư đầy nước mắt. Tôi chưa coi xong đã khóc như mưa. Thằng khoá sinh nằm bên cạnh nói: “ Đ. má! Sao mày yếu quá vậy?”.

 Ra đơn vị, đóng quân ở Mỹ Tho. Tháng tháng lãnh lương, lương lính thiếu trước hụt sau, lâu lắm mới dôi dư được chút ít, hí hửng đón xe đò đem về biếu mẹ. Mẹ nói: “Con cho cái Mỹ ấy (Mỹ là tên đứa em gái kế tôi) người nó cứ xanh lả lướt ra”. Tôi ra chỗ chân cầu thang, nơi em tôi đang ngồi rửa chén, đưa tiền cho em. Lát sau mẹ tôi hỏi: “Con cho em con chưa?” Tôi thưa: “Dạ rồi”. Mẹ tôi vui.

 Những ngày về phép thật là những ngày huy hoàng. Thấy tôi về, cha tôi mừng: “Thằng này giỏi! Giờ này mà đã từ Mỹ Tho về tới nơi rồi cơ ứ? Giỏi!” Còn mẹ tôi nấu canh hoa Thiên Lý cho tôi ăn. Tôi quân phục chỉnh tề, ngồi húp canh xột xoạt, mà lòng thổn thức, bao giờ mới trả được ân tình bát canh này mẹ ơi…

 Rồi tôi lấy vợ. Mẹ tôi có vẻ buồn. Tôi linh cảm được nổi buồn này của mẹ nhưng tôi không hỏi tại sao. Tôi sợ phải đối đầu với sự thực, thà cứ để tôi mơ hồ hiểu là mẹ tôi không có cảm tình với người tôi vừa lấy.

 Năm năm lính trong ngành Quân Tiếp Vụ, toàn là bia bọt với thuốc lá Ruby, sữa, đường, dầu ăn… không biết mặt mũi Việt Cộng ra làm sao. Đùng cái ba mươi tháng Tư, tự nhiên bị kết tội là có nợ máu với nhân dân, đưa đi cải tạo mút chỉ năm năm rưỡi. Phải đi thôi, không cãi được. Nợ hồi nào? Ai làm chứng? Một "cc" máu cũng không nợ chứ đừng có nói càn nói bừa.

Thế là Mẹ già lại phải lặn lội cùng con dâu đi thăm nuôi hết trại Cù Lao Dung, Long Mỹ, Sóc Trăng tới trại Kinh 5, Vị Thanh, Chương Thiện… Ra gặp mặt, mẹ khóc nhiều hơn nói. Còn mình khốn nạn, nhìn vợ và nhìn túi quà nhiều hơn nhìn mẹ. Ở trong trại cũng thế, mỗi tháng trại cho viết thư một lần, ấy vậy mà suốt năm năm rưỡi trời không có lá thư nào về cho mẹ. Thư toàn gửi về địa chỉ Mỹ Tho cho vợ. Chết cái lúc ấy lòng mình rất tỉnh bơ, không bị lấn cấn gì hết, coi như đó là chuyện đương nhiên. Hay tại như lời người xưa thường nói: Nước mắt chảy xuôi. Nước mắt có chảy ngược bao giờ???

Tôi đi tù về đầu năm 1981. Lúc ấy cả nước vẫn còn đang đói. Dù dân thành phố không còn phải ăn độn bắp, bo bo, khoai mì nữa, nhưng căn bản vẫn là đói. Gạo đầy thóc và sạn mà vẫn khan hiếm. Thèm thuồng từ mì gói trở đi. Dạo ấy ai có bịch bột ngọt 500 gờ-ram đã là danh giá lắm. Người trong xóm kháo nhau: “Ông ấy (hay bà ấy) số trời cho sung sướng cho nên mới có gói bột ngọt to bằng hai bàn tay…”. Chưa nói tới thuốc lá ba số 5, biểu tượng của xa hoa và quyền lực. Không ai dám hút. Chỉ chuyên dùng để hối lộ công an hay quan chức chính quyền nên đã có câu, “Ba số năm đang nằm cũng ký”…

Trong bối cảnh ấy, cha mẹ tôi cũng chịu cùng chung số phận. Cha tôi vốn là công chức chế độ cũ, mất việc ngay từ những ngày đầu tiếp thu, may không bị đi học tập, chắc là do tuổi già.  Hai ông bà quay qua buôn bán lặt vặt ngoài lề đường kiếm sống. Mẹ tôi suốt ngày còng lưng ngồi băm chả nai cho cha tôi, cựu Chánh Sở Biên Bản Thượng Nghị viện, Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, ngồi cặm cụi quạt chả bên đường, mùi thơm bốc lên ngào ngạt, quyến rũ khách thập phương, nhưng cũng có những ngày ế chổng mông, lòng già thêm cay đắng, não nề. Cuộc sống quay quắt của cha mẹ tôi chỉ chấm dứt khi Việt Cộng bắt đầu cho dân chúng nhận những thùng quà do người thân gửi về từ các nước. Chẳng qua là trong số mười hai người con còn sống trên tổng số mười sáu người con do cha mẹ tôi đẻ ra, đã có ba người con vượt thoát được ra khỏi Việt Nam vào thời điểm đó, và ba anh chị em này của tôi đã không quên cứu nguy cha mẹ già bằng mấy thước vải soa Pháp, những cái quần lót phụ nữ đủ màu sắc, vài phong kẹo chewing-gum, và thế nào cũng phải có cục xà bông Lux, hòn ngọc của gói quà, bởi vì bao giờ nằm sâu trong ruột cục xà bông cũng là tờ giấy bạc một trăm đô-la Mỹ cuộn chặt nhét trong đó.

Nhờ thế cha tôi đã có những ngày sống yên thân đến cuối đời.

Nhờ thế mẹ tôi lại có tiền để bao bọc cho những đứa con còn kẹt lại. Đứa nào đứa nấy te tua không còn manh giáp. Nhất là tôi: Hết vác gạo tại chợ gạo Trần Chánh Chiếu, (vác bao nếp 80 ký thì dễ, đi băng băng, vác bao gạo chỉ xanh 100 ký thì hồn xiêu phách lạc, đi như người rô-bô) lại đạp xe ba gác (chở nặng đầy nước tương từ ngã ba Ông Tạ vô Chợ Lớn rồi lại chở vỏ chai không chất cao ngất từ Chợ Lớn về ngã ba Ông Tạ, tối về nhà hai vợ chồng ăn cơm với toàn nước tương hạng nhất). Thế còn là may. Bởi vì có những lúc thất nghiệp, nằm ngủ vùi trong căn phòng ở ké nhà người anh. Ngủ thì thôi, còn thức dậy là cảm thấy đắng cay và hồi hộp. Bởi vì lúc ấy vợ tôi đang một mình một ngựa đi bỏ mối xà bông ăn huê hồng ở các chợ không biết có thành công hay không? Tương lai hai bữa ăn ngày hôm nay là tùy thuộc vào phi vụ này. Cứ như lời một bài hát: “Sống là đây mà chết cũng là đây…”

Trong thời gian khốn khổ này, có những lần tôi đạp xe về nhà cha mẹ tôi. Tiếng là để thăm cha mẹ, chứ thực sự trong lòng là để gà què ăn quẩn cối xay, thử xem có thể moi được tí tiền từ trong túi mẹ mình hay không? Thì cũng chỉ là đủ để mua một hai xị rượu, uống cho quên mình, quên đời, và quên cảnh khổ chung quanh. Kinh Thánh cứ dạy: “Hãy xin sẽ cho, hãy gõ sẽ mở” Tôi thì lúc nào cũng chỉ thành khẩn cầu xin Chúa ban cho ngày hai bữa đủ dùng và một bữa nhậu đủ xỉn. Và lời cầu xin khiêm nhường của tôi hình như đã vọng đến tai Chúa…

Lần nào tôi cũng được toại nguyện. Thấy tôi dựng chiếc xe đạp không phanh, không bàn đạp trước sân, mẹ tôi ngồi bật dậy, búi lại mớ tóc, ân cần nắm lấy tay tôi rủ đi ăn hủ tíu “Chị Gái” ở ngay đầu xóm. Tôi cố quên đi sự mắc cỡ (cái sạp bán hủ tíu trong hẻm này khách ăn toàn là đàn bà, con nít) để ăn cho hết tô hủ tíu. Mẹ tôi ngồi nhìn tôi ăn, cặp mắt đã đục thủy tinh thể càng mờ đi vì nước mắt.  Những giọt nước mắt của mẹ chảy loanh quanh theo gò má nhăn nheo. Tôi những muốn nói: “Mẹ ơi! Thôi đừng khóc. Người khóc phải là con đây, bởi vì phận làm con, không nuôi nổi cha mẹ già thì chớ, sao còn để mẹ phải trả tiền bao con.”

Nhiều lần tôi đã khóc trong lòng như vậy. Khóc thôi chứ không làm gì khác được.

Rồi tôi vượt biên. Cũng là vàng do mẹ tôi đi vay mượn đóng cho chủ tàu. Mẹ tôi bảo: “Con đi đi, con ở với "cộng sản" không được đâu”. Tôi đi, lòng tâm nguyện: Một là chết trên biển, hai là cứu thoát mình và vợ con khỏi cảnh bí cùng…Buổi tối trước khi đến điểm hẹn lên tầu, tôi lên lầu đứng cạnh giường cha tôi, ông đã uống rượu và đang ngủ say, tôi thầm thì nói những lời chào từ biệt ông, sau đó tôi xuống nhà với mẹ. Đêm đã khuya, mẹ vẫn chưa ngủ, tôi nói: “Thôi con đi mẹ nhé!” Mẹ bổ cau ăn, miệng cười méo xệch: “ Ừ con đi, chân cứng đá mềm!”

Thế là tôi đi, bỏ lại đằng sau quê hương, tổ quốc, cha mẹ già và nỗi đau canh cánh bên lòng của một đứa con bất hiếu, quên câu phụng dưỡng mẹ cha, chỉ nhớ câu bỏ của chạy lấy người…

Sau bốn ngày lênh đênh trên biển, tôi tới trại tỵ nạn Galang an toàn.

Sau ba năm nằm ế người trong trại tỵ nạn chờ thanh lọc, phân loại xem ai là tỵ nạn chính trị, ai là tỵ nạn kinh tế, tôi được phái đoàn Mỹ nhận và đặt chân tới Mỹ vào tháng 9 năm 1992.

Lúc ấy mẹ tôi đã già lắm rồi và cha tôi thì đang sống nốt những năm tháng cuối cùng của đời ông. Ông bị ung thư phổi và cuối cùng ông mất năm 1995 giữa những cơn đau đớn thể xác gây ra bởi căn bệnh quái ác. Lúc ông bệnh tôi có về thăm ông được một lần, nhưng ngày ông mất, vì nhiều lý do bức bách tôi không về chịu tang ông được, đành mang mặc cảm của một kẻ “bố chết, không chôn nổi bố”. Mặc cảm ấy đã theo tôi cho đến tận ngày hôm nay…

Còn mẹ tôi, với thời gian, sức khoẻ của bà suy sụp đi một cách nhanh chóng. Lúc này tôi có cho mẹ được đồng đô la nào, mẹ có xài được đâu. Mẹ chỉ cất vào túi áo bà ba, tiền Mỹ Kim mẹ cất riêng một túi, gài kim băng cẩn thận, tiền Việt Cộng mẹ gọi là tiền Đông Dương cất riêng một túi cũng gài kim băng cẩn thận… Mỗi lần anh chị em chúng tôi rủ nhau từ Mỹ về thăm mẹ, mẹ đưa tay sờ mặt từng đứa con.  Ôi những đứa con xa mẹ, tuổi đà trên dưới sáu mươi, nay tề tựu về ngồi chung quanh ngắm nhìn mẹ, lòng dâng trào cảm xúc, khóc không được mà cười cũng không xong.

Rồi mẹ tôi mất. Bà đi rất bình yên.

Anh em chúng tôi về kịp để tiễn đưa mẹ. Tôi đứng cạnh quan tài nhìn mẹ nằm như ngủ. Chỉ có điều chắc chắn là mẹ sẽ không còn bao giờ thức dậy nữa đâu. Mẹ đã rời khỏi vĩnh viễn cái hành tinh này rồi. Một kiếp người mẹ đã sống trọn. Lát nữa đây thôi, thân xác quen thuộc và yêu quý của mẹ sẽ trở thành tro bụi và về với lòng đất. Còn lại trên dương gian này là những đứa con của mẹ , lớn mấy thì lớn vẫn sẽ cảm thấy lạc loài từ đây. Ý nghĩ này làm tôi hoảng sợ, đau đớn. Không khóc thành lời nhưng lòng cứ tê dại đi.

Từ cái ngày u buồn đó tới nay cũng là hai năm hơn rồi. Thời gian trôi cứ trôi, nhưng lòng con thương nhớ mẹ đâu lệ thuộc thời gian. Mẹ ơi! Đêm nay nhớ mẹ con ngồi viết những giòng này, cô đơn như một đứa trẻ mồ côi, con chỉ có một ước ao duy nhất, ước ao mà con biết chỉ là mộng tưởng, như lời thơ của Thi sĩ Trần Trung Đạo:

“Ví mà con đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười"...


Dương Phú Lộc
Raleigh, tháng 3 năm 2010

 

Cùng Tác Giả / Đề Tài