altHàng ngày, những lúc rảnh rỗi tôi lại lên mạng tìm vào hai trang nhà nlsbaoloc.net và nlsbaoloc.com để nhớ lại bao kỷ niệm. Năm năm sống nội trú học hành ở ngôi trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc. Tôi vẫn ghi đậm trong tiềm thức những hình ảnh từ cổng trường, văn phòng, các dẫy phòng học, các lưu xá, căn nhà của quý Thầy Cô, những con đường đến nhà ăn, đường đi tới cột cờ, đường đến lớp học và các con đường dẫn đến Nông xưởng, trại nuôi heo, vào rừng học tập nông trại, vườn ươm cây, chuồng gà  v..v.. và rồi hằng đêm tối nhớ chiếc xe môtô của bác Long đi cúp điện để biến các dãy phòng học sau đó trở thành khu đèn dầu leo loét.

Nơi tôi ở bây giờ mới vào thu mà sáng và chiều trời đã trở lạnh hơn thời tiết Bảo Lộc thời ấy, lại có tật hút thuốc, chưa hết nửa điếu là phải vứt bỏ đóng cửa vào nhà. Ở Mỹ thật mất vui, không hút thuốc trong nhà, sao ở Đà Lạt có lúc trời lạnh hơn thời tiết bên Mỹ, được thoải mãi hút thuốc bất cứ ở đâu. 

Nói là nói vậy thôi, chứ mình hút thuốc đã lâu, cũng hiểu rõ được tai hại của nó nhưng chẳng qua là bỏ hẳn chưa được, thôi thì ráng bỏ dần và hút ít lại. Nhất là gần trẻ con mà hút, khói thuốc sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và thể chất trẻ sau này. Ngay cả người lớn gần khói thuốc, những người không hút rất bực mình. Tôi sẽ đề cập lại vấn đề hút thuốc ở loạt bài giảng Triết của thầy Phan Quang Định. 

Đề tài Thầy và Trò NLS Bảo Lộc đã nhiều người viết rồi. Nhưng đây là cảm nhận của tôi từ ngày lên Blao vào trường đến nay tôi còn nhớ rất rõ. 

NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG: 

Ngày đầu lên trường, xuống xe đò đến văn phòng, anh bạn chung xóm học trên một lớp hướng dẫn làm thủ tục nộp giấy trúng tuyển cho bác Nhất, rồi qua phòng cạnh bên đóng tiền ăn cho thầy Thơm. Ông trợn mắt nói: “Cháu gọi là bác thôi, tao đâu có dạy học đâu mà gọi là thầy”. Nhìn qua bàn kế, bảng tên đặt trên bàn, Nguyễn tôn Nhan (đầu niểng một bên) lại nói chào thầy Nhan. Ông cười nói: “Bạn gọi mình là anh đừng kêu thầy, mắc cở lắm”, đặc sệt giọng miền Nam với nụ cười cởi mở. Quay qua bàn Phụ tá Giám Học, với chiếc áo “bành tô” lớn khổ bạc màu, các học sinh cứ huyên thuyên gọi: “Bố”. Tôi thấy Bố vui vẻ quá, sau này biết được đạo đức, tính tình hiện rõ trên gương mặt, tôi cảm nhận được được sự quý trọng dành cho ông. 

Có lúc tôi lại thắc mắc, mình là học sinh phải gọi bằng Thầy, sao các bậc đàn anh đàn chị ai cũng gọi là “Bố”. Lúc đầu tôi nghĩ chắc đây là cách xưng hô theo miền Bắc vì vị Phụ tá Giám Học lớn tuổi lại hòa đồng vui vẻ coi học sinh như con đẻ… Thầy Mai bách Huyên nay không còn nữa, xin được đốt nén nhang thơm đến thầy. Bản thân tôi luôn nhớ đến Thầy, một người Thầy khả kính điền đạm dễ mến của hầu hết tất cả học sinh trong trường. Đối với chúng tôi, thầy luôn luôn cố gắng vận dụng hết khả năng để giúp đỡ. Nhưng có lẽ đám học trò nhỏ cũng thiếu tài chánh, mà thầy thì không thể giúp nhiều được vì gia cảnh thầy cũng quá “bèo”, gia đình đông con, mặc dù cô Huyên phải buôn bán thêm ngoài chợ. Nhưng với tấm lòng hào hiệp và thương yêu học trò, thầy đã có hơn một lần giúp đỡ tài chính cho dăm học sinh khó khăn. Đây là người thầy, là ông Bố mà tôi khả kính nhất trong bốn người đầu tiên (thầy Huyên, bác Thơm, bác Nhất và anh Nhan) khi tôi chân ướt chân ráo tới trường. Bốn vị đều là những người tử tế và rất lịch sự khi tiếp xúc với học sinh. 

Tôi đã có thiện cảm khi nhìn từ xa khung cảnh trường. Ôi ! các các dãy lớp học khang trang quá…nhân viên nhà trường lịch thiệp quá. Tôi bớt dần sự ngỡ ngàng trong niềm vui phấn chấn và lòng tràn đầy tin tưởng vào sự giáo dục của ngôi trường mà tôi phải quyết tâm học hành trong 5 năm. Lúc đó tôi cũng không nghĩ là với thời gian đó là dài hay ngắn nữa khi mới tuổi 13. Nào có suy nghĩ gì cho sâu, chỉ biết rằng thi đậu lên vùng cao nguyên khí hậu tuyệt vời so với Sàigòn đầy oi bức.  Tuân lời cha mẹ chu cấp tiền ăn học thì phải quyết tâm “học cho đến nơi đến chốn”. 

BỐ HUYÊN:

altBuổi học đầu tiên, giờ đầu là môn Công dân giáo dục. Gặp lại thầy … Bố Huyên, cả lớp sung sướng vui vẻ quá, không khí tràn đầy tình cảm: bố, bố..con, con. Phải công bằng mà nói, thầy dạy không thật xuất sắc, nhưng với lòng nhiệt thành cởi mở, thầy đem hết khả năng cùng những dẫn chứng cụ thể, thêm với giọng đặc biệt Bắc bộ, ai đã từng học với thầy đều nhớ rất rõ những lời thầy giảng. Thầy không bao giờ quát nạt ai, chỉ luôn tạo điều kiện cho tất cả học sinh hấp thụ môn Công dân giáo dục. Gương mặt thầy luôn nở nụ cười trên môi thì đâu học sinh nào dám trêu ghẹo thầy. Tuy thế thầy lại hay và luôn luôn làm “vỡ đầu” học sinh. Thầy có thói quen mỗi khi gọi kiểm tra bài cũ, thầy hay đột nhiên gọi một học sinh nào đó nhắc lại nội dung thầy vừa giảng. Đôi khi thì thầy nhắm mắt lại, tay cầm bút cho rơi xuống bảng danh sách học sinh trải trên mặt bàn, rồi miệng thầy nói: ”Anh bạn tôi…!”, trúng tên người nào đó nơi đầu bút là thầy gọi tên học sinh đó. Chúng tôi ngồi dưới lớp lép nhép kêu:”Bể đầu..” Ồ! một ngày như thế, thầy gây hình sự rất nhiều lần, cả làng đều ớn! 

Sau đó lên đệ Tam, thầy phụ trách môn sinh ngữ Anh Văn lớp tôi. Đi kèm trợ giảng với thầy là ông Mỹ 100%: Bob Harenson làm ở cơ quan Mỹ trong Tòa Tỉnh. Lớp học ở ngay góc hơi thiếu ánh sáng, vài con muỗi lại thích máu Mỹ hơn máu Việt. Ông Bob ta với tư cách giáo sư lại không dám gãi, có lúc chịu hết nổi cũng phải “vì mày tao phải đánh tao”, tuổi còn trẻ, nhiều lúc mặt mắc cở đỏ gay. Vai trò trong lớp của ông là dạy học sinh cách phát âm tiếng Mỹ cho đúng. Cả bố Huyên cũng học cách phát âm với học sinh. Bố đọc một câu, cảm thấy chưa đạt yêu cầu, nhìn qua ông Bob, ông ta biết ý đọc đúng giọng, thầy đọc lại cho đúng, học sinh đọc lại theo thầy. Thật khó có thầy cô nào qua mặt được thầy Huyên về khả năng vừa dạy vừa học trong cùng một lớp sinh ngữ Anh Văn. 

Ôi viết về thầy đến đây, đôi mắt tôi cứ đỏ hoe, tuổi già sức yếu không còn nước mắt để khóc cho sự ra đi tức tưởi của Thầy. Năm 1978, tôi có về thăm trường, ở lại nhà bác Long, bác tài xế kiêm tắt mở máy phát điện của trường. Nghe bác nói họ cho Bố đi học tập trên núi Đại Bình với một con dê đực và một điều kiện khi nào dắt về hai con (1 dê cha, 1 dê con) bố sẽ được ra trại.  Hỡi ơi! cuối cùng bố cũng được ra, mà ra người thiên cổ. Tôi không nhớ rõ đã được nghe là bố ở Đại Bình bao nhiêu năm, chỉ biết rằng sau đó có một người Thượng về báo tin dữ cho Cô Huyên. Thời gian sau khi bố mất, tôi có lên lại Bảo Lộc tìm gặp Cô để chia buồn nhưng không được gặp vì thời gian không cho phép. Khổ thay cho một kiếp người. 

BỐ NGÀ:

Một người thầy đứng tuổi dạy lớp tôi là thầy Ngà, Quản Đốc Nông Xưởng của trường. Có lẽ lưỡi thầy không thẳng được nên thầy nói “đớt”, chúng tôi phải lắng nghe mới hiểu được. Thầy ít cười, khi giảng dạy trên lớp, dường như chú tâm vào chuyên môn (Công Thôn). Có lẽ biết giọng nói mình khó nghe, nên thầy diễn đạt và lập đi lập lại hơi nhiều. Xin kể lại câu chuyện vui về thầy: một hôm trong giờ giảng bài “Dũa là gì?”. Dạy gần xong, có một bạn hay trêu đùa của lớp tôi (tôi nhớ cả họ + chữ lót + tên), hiện anh đang ở Texas.  Anh nhại giọng thầy mà thầy không biết, bạn hỏi lễ độ: "Thưa thầy chừng nào “XI” thầy?” (vì gần tới kỳ thi lục cá nguyệt, mà môn này do thầy định ngày thi trước hoặc sau thời khóa biểu thi của những môn khác). Ý của bạn tôi hỏi ngày thi môn của thầy. Thầy nghe liền trả lời: "Dà! (thói quen trước một câu của thầy Ngà).. người ta hàn, dũa cho liền mặt, sau đó Xi lên một lớp kim loại tùy theo”. Cả lớp đồng thanh cười ồ, mặt thầy rạng rỡ nghĩ rằng sự trả lời truyền đạt một cách hoàn hảo. Cả lớp cười to, lúc đó sắc mặt thầy hơi ngỡ ngàng, đôi mắt thầy hơi nheo lại và cũng là hết giờ, và chắc chắn thầy không có lời đáp cho sự cười khả ố của học sinh lớp tôi. Khi thầy rời khỏi lớp hơi xa, bọn chúng tôi cười như nắc nẻ. 

Một kỷ niệm khác về thầy Ngà, sau đó những bữa tiệc trên nhà ăn vào buổi tối của đoàn Thanh Sinh Công mừng lễ Giáng Sinh. Tôi có dịp được xem thầy nhảy trên sân khấu. Lúc đó các học sinh ai biết điệu gì thì lên nhảy nghệ thuật điệu ấy. Hứng chí với không khí nhộn nhịp phấn khởi thầy Ngà bước lên sân khấu và nhảy say xưa theo điệu riêng của thầy. Thầy đút hai bàn tay vào túi quần, cứ thế nhảy lên xuống một chỗ. Tiếng gót giày nện xuống mặt bục gỗ tạo âm thanh nhịp nhàng. Thấy vũ điệu lạ mà lần đầu thầy nhảy tất cả học sinh vỗ tay tán thưởng. Tiếng vỗ tay chưa dứt là thầy còn nhẩy, mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Kính lão trong túi áo, đồng hồ đeo tay rơi cả xuống sàn mà thầy nào hay biết, mà dù nếu có biết thầy cũng không thèm ngưng sợ học sinh cho mình sức yếu, mà nhất là các anh lớp đệ Tam trở lên, vỗ đều, vỗ to, miệng hô như cổ võ thêm. Cuối cùng có giọng ai đó hô to: “thôi để thày nghỉ, ổng mệt rồi”. Tiếng vỗ tay im bặt, thầy từ tốn gật đầu chào, vuốt lại mái tóc, sờ vào túi lấy kính, học sinh nhắc thầy: “kính và đồng hồ của thầy rớt xuống sàn kià”. Thầy nhặt lên với nụ cười và trở xuống chỗ ngồi vui vẻ. Các thầy cô và học sinh tham dự được một trận cười vô tiền khoáng hậu. 

Trong lớp ngũ B có Trần Có, là học sinh giỏi, có tài đá banh, có sức khoẻ, chân dài, cao ráo, đẹp trai. Miệng hơi móm có duyên, trắng trẻo, anh là một tên tuổi thuộc loại chăm chỉ học hành vào hạng nhất nhì trong lớp. Vậy mà bạn Có bị bố Ngà sửa tên.  Một hôm sau giờ học, học sinh về lưu xá cất tập vở rồi đi ăn cơm trưa, bạn Có xanh mặt cằn nhằn: “tên cha mẹ đặt cho tao, yêu cầu tụi mày gọi đúng tên”, thì ra thầy Ngà khi gọi kiểm tra trong lớp, đọc đến tên Có, vì phát âm ngọng, thầy gọi “Chần Chó”, cả lớp cười ồ. Thế là trên đường về lưu xá, danh từ “Chó” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần từ anh em trong lớp. 

CÔ VÂN

Nói đến thực tập nông trại, hôm đó Tứ A, B thực tập chích vein cho thỏ do Cô Vân đảm trách. Sau khi đã hướng dẫn lý thuyết, cô gọi một số học sinh làm thực hành. Cô ôm thỏ vào lòng, một học sinh rút thuốc vào si-lanh, dùng gòn tẩm cồn sát vào mạch máu lớn nhất ở tai thỏ, sau đó một tay cầm vành tai chỗ nhọn nhất, tay kia cầm si-lanh đâm vào vein rồi bơm thuốc. Bỗng Cô la to: "Em đâm sâu quá, làm ướt cả hai bàn chân cô rồi”. Thì ra bạn tôi vì quá run đâm kim lút qua vein và lớp da bên dưới. Chúng tôi đang tuổi chuẩn bị lớn, đám con trai đang tuổi dậy thì, cười ồ trước câu nói của cô, còn các bạn gái đỏ mặt. Khí hậu buổi sáng Blao lại càng làm hồng thêm đôi má chỉ vì một câu vô tình không có ý gì của cô theo đúng nghĩa đen cô nói. Sắc mặt cô vẫn nghiêm nghị, dõng dạc gọi tiếp tên anh bạn khác. 

THẦY VÂN:

Trong một kỳ thi nông trại, lớp Tứ B thi trước Tứ A. Lũ học trò lớp A ráng sát thủ gần cửa để xem thầy hỏi thi ra sao? Đến Hà thị Bảo Ngọc (có lẽ bà con với Hà thị Trinh nổi tiếng với bài “Xa Vắng” trong những đêm văn nghệ trên Đại Thính Đường). Thầy Vân với giọng nói rất thấp, ồ ề, khàn khàn, phải chú ý cao độ vì thầy phát âm hơi nhỏ nhất là trong lúc hỏi thi. Thầy hỏi Bảo Ngọc: "Cỏ mật tên khoa học là gì?”. Lũ con trai chúng tôi thấy Bảo Ngọc im lặng, hai bờ vai nhúc nhích lên xuống theo hơi thở. Một lúc sau chị trả lời: ”Bờ-ra-xi-a-ri-a-bờ-ri-cha-cha”. Thầy Vân mỉm cười nói: "Bình tỉnh nói lại đi”. Một lúc sau Bảo Ngọc trả lời: ”Dạ thưa thầy Brachiaria..bờ..bờ..bờ ri jan tha”.  Thầy Vân nói tỉnh bơ: ”đúng rồi, nhưng nhớ cỏ mật chỉ mọc một bờ thôi nhé chứ không mọc ba bờ đâu. Bước khỏi phòng thi Bảo Ngọc lẩm bẩm: ”Zue-su-maria!”. Thầy Vân đã mất, trong tôi vẫn còn dư âm lúc thầy hỏi thi bạn Bảo Ngọc. 

Nguyễn Anh Phong – TL65-70
Illinois, 26 tháng 9 năm 2010