altSáng nay bỗng dưng thức sớm, mở Trang Nhà lên.  À bài mình đã được đăng, phấn khởi quá, viết tiếp để “giải sầu”. Ở Mỹ này buồn thật, ở VN giờ này là đang ở quán café nào đó tán gẫu với các bạn rồi, thôi thì đủ chuyện: thời sự, xã hội và không ngoài chuyện tiếu lâm.

Kỷ niệm lớp Ngũ, Tứ rất nhiều, vì là 2 năm đầu nội trú, không quên được trong tâm trí dù đã trên 40 năm, lúc mái tóc còn xanh mướt nay đã muối nhiều hơn tiêu.

Giải lao một tí, nói chuyện ăn tại Trường, môt đặc trưng của Trường NLS Bảo-Lộc, độc nhất vô nhị này là  chỉ  có  Trường NLS Bảo Lộc là có chế độ nội trú. Với điểm đặc biệt này, chị Kim Nguyên mặc dù nhà ở sát bên Trường cũng vào ở nội trú sau khi trúng tuyển. Tôi nhớ đến chị do nghe mục phỏng vấn của Danh Thảo. Tôi được biết chương trình này rất được mọi người ưa thích, kể cả một số bạn bè tôi ở Việt Nam. Ai cũng mong được nghe vào mỗi đầu tháng, để được nghe lại giọng nói của những người Thầy, Cô, bạn bè thân thương của thuở nào xa xưa.

Tôi đang ở Chicago đây, chị Nguyên ơi! Đây là nơi mà chị ở đầu tiên trên đất Mỹ. Lạnh quá chị Nguyên ơi! Lại gần mùa tuyết rồi. Lúc ở Việt Nam mong được tiếp cận tuyết, nay gần 6 mùa rồi, ớn quá! Chắc “rỉ tai” trở về Cali cùng Mẹ và anh chị em tôi thôi. Kính lời thăm anh Yên - chị Nguyên (búp bê). Chị không biết em, em học lớp sau chị, em không quên được nụ cười hồn nhiên của chị.

Nhà Bàn:

Nhà ăn nơi NLS Bảo Lộc, là nơi ngày đầu bước vào Trường là phải đóng tiền để nhận phiếu ăn hàng tháng, ngày mai có cơm ăn liền, vì “có thực mới vực được đạo”, bụng đói sao học được. Nào bác Ba (Quản Lý), bác Phồn (nhỏ con) nhưng nhanh nhẹn tháo vát nhất trong bếp. Miệng mồm bác luyên thuyên, bác giống bác Nhất, nhớ tên không sót người học sinh nào. Học sinh nam bác gọi bằng “thằng”, học sinh nữ gọi bằng “cái” (chứ không con), vì học sinh thường xuống bếp lấy nước sôi, nuớng lạp xưởng. Nhất là các chị nữ thường đem bình thủy lấy nước sôi để dùng trong lúc ôn bài ở Lưu xá.

Bác gì đó (tôi quên tên) đầu húi cua, trẻ nhất trong nhà bếp, bác luôn phụ trách đi chợ cùng hai học sinh trực. Vào chợ thì thôi, nhanh như sóc khi gợi ý các món ăn ngày hôm đó. Có lẽ cũng mánh mung gì đó với các bạn hàng ngoài chợ để kiếm chút hoa hồng. Tôi còn nhớ rõ, một lần tôi trực bếp. Khi đi chợ tôi quyết định ăn món đậu hũ dồi thịt, bác nhìn tôi hơi ít thiện cảm, nhưng quyết định món ăn là do học sinh trực, anh Mai văn Lượng (trưởng Ban Kinh Tế) đã căn dặn tôi như vậy. Hôm đó tôi mua hết sạch cả 4 hàng đậu hũ mới đủ số lượng, các cô các bà bán đậu hũ tỏ ra phấn chấn. Chỉ 30 giây là “giải quyết xong kinh doanh trong ngày”, có thể về nhà sớm nghỉ ngơi nên nở nụ cười với tôi, không quên dặn tôi “lần sau có trực đừng quên đậu hũ nhé”.

Đây là cách tổ chức quy củ và chu đáo, tập cho học sinh tính Dân chủ và Quản lý đồng tiền, cách thức kê khai, thu chi tiền ăn trong ngày (do học sinh trực cần tiền đi chợ, còn khối lượng luơng thực, nhân viên nhà ăn cùng đi chợ nắm). Học sinh trực phải kê khai vào sổ trực nhà ăn, bác Ba quản lý ký xác nhận, tiền còn dư giao lại cho anh Trưởng Ban Kinh Tế, (đây là một ban trong Ban Đại Diện do học sinh bầu).

Nào anh Mai văn Luợng, Thiên Sanh Thêu, Nguyễn văn Bẩy, còn Minh Rổ (cùng lớp với tôi), luân phiên làm Trưởng Ban Kinh Tế. Trách nhiệm các anh rất cao, bao nhiêu năm không xảy ra sơ xót nào, nhất là vấn đề  tài chánh. Quyền lợi của các anh chỉ được miễn đóng tiền ăn trong suốt nhiệm kỳ, sáng dậy sớm để lo ăn sáng cho tập thể, học xong buổi sáng, 3 chân 4 cẳng xuống ngay nhà bếp, sắp xếp tình hình món ăn để rút kinh nghiệm cho những ngày sau. Các anh cũng là người ăn cơm sau cùng khi thức ăn đã nguội nhất là khi trời lạnh, đâu có "microware" như bây giờ.

Vui nhất là mấy chị nữ, nhà ăn có 3 dẫy bàn ăn, nam 2 dẫy, nữ 1 dẫy sát tường kính trong cùng, các chị rất sợ ngồi đối diện phía nam, các học sinh nam hay đùa khi thấy chị nữ đưa muỗng cơm gần miệng thì đồng thanh hô “ÙM”, nhiều chị đỏ mặt phải đổi chỗ ngồi quay lưng về phía nam. Đây là trêu “vui”, không có sự cự cãi hay phản ứng lại, hoặc lớn tiếng trong phòng ăn bao giờ. Hay lắm, không bao giờ quên được hình ảnh này.

Má Chè:

Nói về chuyện ăn quà ở Lưu Xá, kính lão đắc thọ, trước tiên nói chuyện “Má Chè”.

Má chè khoảng gần 80 tuổi, chỉ bán ở Lưu Xá nữ và Lưu Xá Ngũ Tứ, chỉ hai Lưu Xá này thôi đã hết nồi chè. Tôi hỏi sao không nấu nhiều tăng thu thập, Má nói không gánh nổi. Má thẳng tính, vui vẻ, phúc hậu, lại buôn bán thiếu, khi học sinh kẹt tiền chờ Măng Đa, không sổ sách nhưng nhớ nợ từng học sinh, thật là “siêu phàm”. Nghe tiếng cười “hì hì” của một bạn nam ngồi gần gánh chè là Má hỏi ngay: “Mày mắc tao bao nhiêu?”, tiếng “mày tao” thật thà, thân thương sao ấy!! Có thể gọi là bà Nội (Ngoại) được lắm chứ, song “Má, con” cho gần gũi hơn. Má lại thích được gọi như vậy. Giờ thì Má đã khuất núi từ lâu.

Tôi có dịp cùng Ngô Hữu Thành và một số bạn nấu cơm lỡ buổi tại nhà Má. Một năm, sau khi nghỉ lễ Tết, lên lại Trường, Câu Lạc Bộ chưa nấu ăn. Má bảo “anh em hùn tiền lại mà nấu ăn ở nhà Má có phải đầm ấm vui vẻ, ăn tiệm làm chi cho tốn tiền. Má sẵn sàng yểm trợ bếp núc, chén bát cho tụi bay, có tụi bay đến nhà tổ chức ăn uống Má vui rồi, bớt không khí lạnh lẽo trong nhà. Đấy là một trong các tình cảm mà người dưng ưu ái đến các học sinh của Trường. Nhà Má ở cạnh lò bánh mì, gần cổng chính của Trường.

Chị Tráng Bún Bò:

Sáng nội trú đầu tiên, ngôi trường ở vùng Cao nguyên, khi sương mai còn rơi lả chả, từ xa xa có một hình ảnh đến chết tôi mới quên: ở phònh khách Lưu Xá, qua khung cửa kính, hình dáng một phụ nữ với chiếc áo dài đen, nón lá che đầu, quang gánh trên vai, một cái nồi nhôm hình quả cầu rất “Huế” bốc khói nghi ngút. Các anh lớp đệ Tứ hô to “ăn sáng”. Tôi hơi ngạc nhiên, rồi hiểu ra: người ta gánh vào tận Lưu Xá “phục vụ tận nơi”, một chị tuổi khoảng 30, miệng luôn luôn cười, gò má ửng hồng bởi cái lạnh của khí trời, kèm theo làn khói lò đang nghi ngút, nước trong quả cầu sôi sùng sục, học sinh cứ thế tập trung lại ngồi quanh gánh bún. Câu đầu tiên của chị tôi còn nhớ rất rõ: “Ôi chao!”, thời gian sau này tôi rõ, là thói quen của chị mỗi đầu câu và rất “Huế”, văn hóa đặc trưng của “Huế thương”, phải không các bạn? Chị niềm nở, vui vẻ, nói về chất lượng của bún bò của chị thì tuyệt hảo. Chắc mọi người đồng ý với tôi là ở Saigon hay ở Mỹ này chẳng có nhà hàng nào qua được chất lượng bún bò của chị Tráng.

Chị cũng bán thiếu mà không ghi sổ, ít cự cãi, lấy nụ cười là chính. Ấy thế mà sau này, khi đã cố định ở nhà kho cũ bằng gỗ Hợp Tác Xã hay dời lên lầu nhà ăn, quán chị luôn đông khách nhất là buổi tối lúc có điện. Sau giờ cúp điện, đèn dầu làm chuẩn, quán lại càng đông hơn. Các Thầy cũng thường đến giải quyết bao tử về đêm, các chị thường mua về Lưu Xá.

Ôi còn gì bằng, đêm Đông lạnh lẽo, sau khi ôn bài xong, một tay cầm đèn dầu, tay kia rút trong trong túi ổ bánh mì còn nóng vào quán chị Tráng gọi tô bún bò hay tô nước bún bò không bún, rau chuối bào trộn ăn thoải mái. Chưa bưng được tô bún, nhưng mùi vị đặc biệt bay vào mũi, cứ nuốt nước bọt ừng ực, đưa được vào miệng thì: thiên đường ẩm thực là đây. Viết đến đây tôi lại muốn về VN, lên Bảo-Lộc vào quán của chị nay ở trườc mặt bờ hồ gần dẫy Ảnh Mỹ Viện để thưởng thức. Tôi đã đến đây nhiều lần, chị rất nhớ tên tôi vì có thời gian chị muốn tôi làm cháu rể của chị, cháu chị cô Giòng (kém tôi 6-7 tuổi), nay chắc chắn là Mệ Giòng rồi còn gì?

Đọc bài trên Trang Nhà, họp mặt trên Trường (1-1-2010), có anh chị Tráng cũng đến dự, chị mặc chiếc áo dài bông quý phái lắm vì nay là bà chủ quán rồi không còn lam lũ với chiếc áo dài đen nhiều chỗ ngả mầu sương khói thuở hàn vi. Thế mới biết “Nhất nghệ tinh nhất thân vinh!!!" Tuy có thay đổi lớn về kinh tế song bản chất và tính tình anh chị vẫn vui như Tết.

Lại gần đến Tết Tân Mão rồi, kính chúc Thầy Cô và các bạn vui mạnh để cùng gặp nhau hàn huyên kỷ niệm trong các dịp gặp mặt.

Nguyễn Anh Phong

16-11-2010