Kể từ ngày rời mái trường nội trú Nông Lâm Súc Bảo Lộc tới nay đã là hơn 30 năm, bao nhiêu nước đã trôi qua cầu....Hôm nay đây, cầm bút lên định viết một bài về trường xưa để đóng góp cho tờ Đặc San NLS Bảo Lộc. Nhưng biết viết gì bây giờ? Thời gian dài dẵng đang cố làm mờ phải đi rất nhiều ký ức, rất nhiều kỷ niệm. Thôi đành lấy ra từ cõi nhớ vài cảm nghĩ tản mạn về trường xưa vậy.

Nhớ về trường xưa, trước hết tôi hay nhớ về những chiếc xe đò Minh Trung đã đưa bọn học sinh chúng tôi, lần đầu tiên xa mái ấm gia đình, tới với ngôi trường đồ sộ nằm tuốt trên cao nguyên Di-Linh, cách Sài Gòn khoảng 180 cây số. Những chiếc xe đò cũ kỹ và già nua này sẽ chạy qua Định Quán, Phương Lâm, sẽ rên hừ hừ khi bò qua đèo Chuối, đèo Ba Cô, hay cũng có khi nằm bẹp dí, không nhúc nhích được dưới đám sình lầy khổng lồ của Paragui. Chiếc xe đò Minh Trung đua tôi đi nhập trường ngày xa xưa ấy đã chạy đến Bảo Lộc an toàn. Nhưng lòng tôi thì thật bất an. Tôi không biết những gì sẽ xẩy đến cho mình, một thiếu niên 15 tuổi, sắp phải một thân một mình đối mặt với cuộc sống nội trú hoàn toàn xa lạ, mới mẻ. Thành ra tôi lo. Hơn nữa, người đưa tôi lên trường là cha tôi. Ông ngồi nghiêm nghị ngay bên cạnh, không biết ông tin tưởng và đòi hỏi gì nơi tôi khi ông đã chấp thuận cho một con chim non rời khỏi tổ... 

Nhớ về trường xưa, tôi nhớ về các Lưu Xá dành cho lưu học sinh. Nhớ nhất là lưu xá D, nơi tôi ở năm Đệ Tứ. Ngày đó, đi qua ngưỡng cửa Lưu xá D là những khuôn mặt của băng “sinh viên” Trần Tấn Phước, Ngô Hữu Thành, Lã Phạm Lân, Nguyễn Đoan Hùng...mặt mày nghiêm nghị, sách vở nặng chĩu trên tay. Ngày đó, đi qua ngưỡng cửa Lưu xá D là băng “Bàng Thính” Đinh Công Lý, Đinh Công Lân, Huỳnh Khắc Dũng.... ăn mặc đẹp đẽ, mì gói, lạp xưởng và các thứ đồ hộp đầy ắp trong phòng.

Còn băng “chới với” tụi tôi Trần Bá Thọ, Trần Quang Trí, Dương Phú Lộc, Nguyễn Hữu Trí...ngủ lây lất trên hai cái bục xi-măng ở trên lầu. Cùng với nhóm học sinh người dân tộc Quảng Đại Phong, Quảng Đại Đức, Từ Công Mắng....Khi đi ra ngoài, đôi khi tụi tôi không dùng cửa chính. Tụi tôi chỉ việc nhắm mắt nhẩy từ trên lan can xuống đất. Nhanh và hào hùng, họa hoằn lắm mới có đứa trậc chân.

Rồi như một tất yếu, tôi nhớ về Lưu xá E. Cái tòa nhà hình hộp, hai tầng, quét vôi trắng dành cho nữ học sinh nay là trung tâm điểm phát sinh ra bao nhiêu là hỷ,nộ, ái, ố trên đời. Đã có bao nhiêu cây si được trồng ở đây? Đã có bao nhiêu nỗi vui và nỗi buồn ? Bao nhiêu mối tình học trò đẫm nước mắt đã xẩy ra tại chốn này? Hay đã có bao nhiêu cuộc hôn nhân bền vững cho đến tận ngày hôm nay được phát xuất ra từ những ngày, những tháng cuả Luu xá E mộng mi....Làm sao tôi biết đươc những chuyện đó? Trình độ của tôi làm sao biết được những chuyện nghiêm túc như vậy?

Đối với tôi, nhớ về Lưu xá E bây giờ chỉ là nhớ những đêm rủ nhau đi nhìn trộm các cửa sổ. Nhớ Trực Già bị các chị nữ sinh ùa ra bắt sống, khóc nức nở tại chỗ. Nhớ Lương Xuân Khả xem chút xíu bị bắt, nhờ bỏ cả giầy dép, bỏ của chạy lấy người.

Nhớ về Trường xưa, tôi còn nhớ tới nhà bàn Kinh Tế gắn liền với những ngày “chới với” đói triền miên. Tôi nhớ tói những thủ đoạn và mưu mẹo vặt nhằm qua mặt các anh trong Ban Kinh Tế để cốt làm sao cho cái bụng mình được no. Tôi nhớ tới những bữa tiệc liên hoan toàn trường thường xẩy ra tại đây vào buổi tối. Có giết bò, giết trâu. Nhớ tới con bò bị cột ở gốc cây gần nhà bếp. Nó chảy nước mắt khi thầy Xuân Còi cầm khẩu súng trưòng trên tay, đang loay hoay sửa soạn thế bắn. Đã xa lắm rồi những bữa tiệc liên hoan đó, cũng như đã lâu lắm rồi tôi chưa có dịp ăn lại món thịt trâu...

Nhớ về trưòng xưa, tôi cũng nhớ ngay đên quán bún bò Huế của chị Tráng. Ban ngày thì không nói làm gì. Đó là nơi đóng đô của các anh Minh-Dự-Kế. Đó là nơi ghé chân của các chị nữ sinh đang lên cơn thèm kẹo đậu phộng. Đó là nơi vào những buổi xế trưa, người ta thường bắt gặp anh Dương Bá Kim hay ngồi đó với ly cà phê bên cạnh, mặt mày đau khổ, đang đắm mình vào trong suy tưởng, cứ như thể anh sắp sửa “thở khói thuốc hơi tròn và nghĩ thầm đời là một tiếng cười to....” (thơ Nguyên Sa).

Tôi thích quán chị Tráng vào ban đêm. Khi mà bóng tối đã bao phủ toàn trường, chỉ còn ánh sáng điện ở những dẫy Lưu xá và các nhà giáo sư. Khi mà sương mù đang bắt đầu đan quyện lấy đôi vai và làm lạnh giá con tim đơn côi của những cậu bé xa nhà. Khi mà lọt thỏm giữa bóng đêm âm u là khung cửa sổ nhỏ xíu nhưng sáng ánh đèn của quán, thứ ánh sáng mời gọi, vỗ về, chia xẻ….Chính vào những buổi tối như thế này, ta hãy mặc quần áo cho thật ấm, bước đi thật cẩn thận trên con đường đất tối mò, ta tìm tới quán chị Tráng làm một tô bún bò Huế, cay và nóng đến đổ mồ hôi. Trong lòng cảm thấy ấm cúng biết chừng nào, an ủi biết chừng nào.

Nhà văn cổ điển Mỹ, Ernest Hemingway, đáng lẽ ra nên ghé quán chị Tráng trước khi ông viết cuốn truyện ngắn “Một nơi sạch sẽ với ánh đèn sáng” (A clean well-lighted place). Nếu được như vậy thì truyện của ông rất có thể đã hay hơn nhiều. Bởi vì cái quầy rượu, khung cảnh cốt lõi của câu chuyện ông viết không thể nào so sánh được với quán chị Tráng nếu xét về sự ấm cúng cũng như nỗi cô đơn của thân phận con người.

Ngoài bún bò Huế chị Tráng ra, tôi còn nhớ Má chè Trung, Má chè Bắc. Má nào cũng đáng sợ cả, Má nào cũng không vừa. Mình có thư bảo đảm, mình chưa biết thì các Má đã biết rồi, chạy đi đâu cho khỏi món nợ ăn chè ghi sổ. Nhân tiện, tôi cũng nhớ cà phê Ngọc Lan ở cổng sau trường, cà phê Anh Đào ngoài bờ hồ, mỗi tháng vào quán được một lần khi lãnh Măng-Đa. Còn thường thì tôi chỉ uống cà phê trong một con hẻm nằm bên lề quốc lộ 20. Ở đó có cà phê “pạc-xỉu” rẻ rề và có Nguyễn Công D. sẵn sàng bỏ tiền ra bao tôi để có dịp thổ lộ ngàn lời về Trần Thị T.

Tôi cũng còn nhớ tiệm chụp hình bé xíu bên cạnh tiệm Bi-da Mỹ Khanh. Hình như đó là nơi ở của một chị NLS, trên tôi mấy lớp, nhưng nhỏ bé và xinh đẹp như một con búp bê biết nhắm mắt, mở mắt.

Nhớ về trường xưa, tất nhiên tôi cũng nhớ tới ba dẫy lớp học đầy đặc những khung cửa sổ, và bên trong là các trang thiết bị được coi là khá hiện đại so với thời bấy giờ.Đã hội tụ tại nơi này bao nhiêu thế hệ học sinh? đã hội tụ tại nơi này bao nhiêu tâm hồn  khát khao học hỏi và những ước mơ bay bổng của tuổi học trò ? Từ ba dẫy lớp học này đi ra đã có biết bao nhiêu người thành đạt, đóng góp phần mình cho xã hội, thậm chí có người đã trở về trường làm hiệu trưởng, làm thầy cô giáo, tiếp tục góp tay đào tạo những thế hệ học sinh mới.

Đã đứng trên bực giảng của ba dẫy lớp học này là những khuôn mặt khả kính của các thầy cô giáo. Tôi nhớ thầy Thảo dậy Thủy Lâm với môn rừng chồi và rừng hạt. Tôi nhớ bố già dậy môn Công Thôn: “Rèn” là gì?”.Giờ đây, sau gần 40 năm xa cách, nhớ mấy lần họp Đại Hội NLS Bảo Lộc tại California, tôi đã may mắn gặp lại các thầy hiệu trưởng Nghiêm Xuân Thịnh, thầy Phan Bá Sáu, thay Nguyễn văn Khuy, thầy Nguyễn văn Nhuệ….Tôi cũng một lần gặp lại thầy Định ở Sài Gòn. Còn bao nhiêu nữa. Đâu rồi thầy Mai Bách Huyên ? các cô Yến Già, Yến Trẻ ? cô Vân dạy Mục Súc, cô Vân mập dạy Anh Văn, thầy Xuân Con ham mê bóng đá? thầy Phạm Phi Hoành nổi tiếng đi săn? còn nhiều, nhiều lắm các thầy cô đã góp phần làm nên nhân cách mình…

Nhớ về các thầy cô ngày trước, không khỏi chạnh lòng với câu thơ của thi si lão thành Vũ Đình Liên: “Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ….”Nhớ về các dẫy lớp học, tôi còn một cái nhớ cụ thể hơn, tâm thương hơn, đó là những lần đang ngồi học, có lớp nào đi thực hành nông trại ngang qua, một số cố ý kéo lê dao mác và cây xà bất xuống nền đường, gây nên những tiếng ồn ào nhưng thích thú và phấn khởi vô cùng.

Ôi! niềm vui đơn giản của một tuổi học trò nghịch ngợm! Sau hết, nhớ về trường xưa, tôi không muốn ép lòng mình để không viết ra rằng tôi rất nhớ cái cột cờ nằm ở vị trí trung tâm trường.Không phải tôi nhớ tới các lần chào cờ toàn trường vào mỗi buổi sáng thứ Hai đầu tuần. Ngày ấy tôi không chắc rằng đã ý thức về lòng yêu nước đã hình thành và nẩy nở trong tôi, nhưng có điều tôi biết chắc là hồi đó tôi rất thích ngồi ở cột cờ với các anh lớp lớn hơn tôi, để hùa nhau vào chọc ghẹo các chị nữ sinh bắt buộc phải đi ngang qua cái địa điểm chiến lược này trên con đường ra phố hay đi chợ. Tụi tôi hay ngồi đếm nhịp để cho bước đi của các tà áo dài phải cuống cuồng lên. Có chị còn vấp váp, suýt té, còn tụi tôi thì no một bụng cười.

Ngoài chức năng là tụ điểm của các cuộc chọc ghẹo mấy chị nữ sinh, cột cờ còn là nơi hẹn hò hay chỗ họp mặt của hầu hết tất cả các nam học sinh từ Đệ Ngũ tới Đệ Nhất. Có thể nói, không một nam học sinh Nông Lâm Súc Bảo Lộc nào lại không có một kỷ niệm của riêng mình đối với cột cờ. Riêng với tôi thì cũng chính tại nơi này tôi đã gặp anh Nguyễn Hoàng Nam và được anh nhận tôi làm “em nuôi”. Anh học trên tôi mấy lớp, hay khoác trên mình cái áo da, lại rất có “máu mặt” trong trường, cho nên được làm em nuôi của anh, tôi đã ít bị ai “ăn hiếp” hơn.

Nhớ về trường xưa, có rất nhiều cái tôi đã quên, thí dụ như Thư viện, chuồng gà, chuồng thỏ …. không biết tại sao lại hoàn toàn biến mất trong ký ức tôi.Nhớ về trường xưa, tôi ao ước được một lần về thăm chốn cũ. Dầu biết rằng cảnh cũ người xưa đã biến đổi nhiều rồi; nhưng vẫn cứ muốn về. Muốn một lần được tận mắt thấy, bởi vì: Nhớ lắm, Trường Xưa ơi!....../.   

Raleigh, Tháng 2/2007 

Dương Phú Lộc

Trích trong ĐS NLSBL 2007