Kỹ Sư CN Nguyễn Thị Thu, cựu giáo chức Trường NLS Bình Dương

   Nhân ngày giỗ của Cô Nguyễn Nguyệt Yến, và để tưởng niệm về người Cô thân yêu của chúng ta, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài viết của Cô Nguyễn Thị Thu về người bạn đồng nghiệp thân thiết khi cả hai dạy tại trường NLS Bình Dương. 

    Để tiện việc theo dõi, chúng tôi xin ghi đôi dòng về Nhà Giáo Nguyễn Nguyệt Yến.

   Cô sanh năm 1934 và vĩnh viễn ra đi vào tháng 4 năm 2011, thọ 78 tuổi. 

  Cô bước vào nghiệp dạy học lúc 25 tuổi (1959) tại Trường Bà Điểm Hóc Môn, sau đó được chuyển đến Trường Trung Học Mõ Cày. Năm 1966, do yêu nét thơ mộng, lãng mạn của đất trời cao nguyên, cô xin chuyển lên dạy Trường NLS Bảo Lộc. Sau biến cố Mậu Thân, 1968, đường lên Trường mất an ninh; hơn nữa, để được gần gia đình ở Sàigòn, Cô xin chuyển về Trường NLS Bình Dương. Và khi đất bằng dậy sóng năm 1975, thuyên chuyển về dạy tại Trường Nguyễn Thị Minh Khai (vốn Trường Gia Long), Cô dạy tại trường nầy đến khi nghỉ hưu (1988). Nhưng nghiệp nhà giáo vẫn bám víu, cô tiếp tục dạy giờ cho hai trường Ngô Thời Nhiệm và Nguyễn Thị Diệu. Chẳng bao lâu sau, vì xa xôi nên Cô thôi luôn và được yêu cầu, Cô mở lớp dạy Toán tại nhà cho các con em láng giềng.

   Thêm 23 năm chất chồng, một Bà Giáo già, nhưng tiếng nói vẫn còn sang sảng, giảng dạy các cô cậu học trò ở tuổi cháu nội, ngoại của mình cho đến tận những ngày cuối đời ở tuổi 78. Công việc dạy của Cô chỉ gián đoạn khi bệnh ung thư gan vào thời kỳ cuối hoành hành. Cô vĩnh viễn ra đi một vài tháng sau đó, kết thúc hành trình, sứ mệnh đời người, khởi đi từ thập niên 30 của thế kỷ trước cho đến hết thập niên đầu của thế kỷ sau. Dấu ấn tuyệt đẹp của hơn 50 năm giảng dạy, một gương sáng tuyệt hảo của một Nhà Giáo Việt Nam đã để lại cho ta, cho đời chiêm ngắm, ngưỡng mộ và thương tiếc. (Trang Nhà)

oOo 

Dưới mắt tôi, Cô Nguyễn Nguyệt Yến mãi mãi là một nhà giáo yêu nghề cho đến hơi thở cuối cùng. Trong bài “Cánh chim không biết mỏi” đăng nơi trang web nlsbaoloc.net, Cô Bùi thị Lợi đã nói rất đầy đủ về những chuyện trong lớp học, về tiểu sử cũng như cuộc đời nhà giáo trôi nổi, lang bạt với bao gian truân, nhưng vẫn bền bỉ, tận lực và đầy nhiệt tình của Cô Yến. Thầy Vương Thế Đức cũng thế trong lời tựa cho bài trên cũng cho ta biết ít nhiều về Cô Yến. Viêt bài này, tôi chỉ muốn ghi lại tâm sự riêng tư bên lề tình cảm của Cô mà thôi. Gọi là một chút lòng thành tưởng niệm đến Cô.

Đa số trong chúng ta, khi lớn lên và để tự lập cánh sinh, ai cũng tìm cho mình một cái nghề, một công việc thích hợp với khả năng, hoàn cảnh gia đình và ý thích. Nếu chẳng may gặp phải công việc mà mình không yêu thích, chúng ta có thể thay đổi, hoặc chỉ làm lấy lệ, không cần bỏ hết tâm tư vào để cải tiến tay nghề của mình ngày một cứng cỏi, điêu luyện hơn. Riêng với Cô Yến, Cô không bao giờ ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức và rèn luyện tay nghề, đặc biệt về việc dạy Toán. Không ai phủ nhận một điều là Cô dạy Toán rất giỏi, có phương pháp riêng của Cô, và đeo đẳng nghề dạy môn này cho đến những ngày cuối của đời mình. Ngoài lý do mưu sinh ra, Cô tận lực đi dạy vì Cô quá yêu nghề. Nếu không phải vậy thì Cô không thể nào thể hiện chức năng nhà giáo của mình một cách hoàn hảo đến thế được.

Nhiều năm qua tôi luôn nghĩ về Cô với tất cả tấm lòng thương mến, quý trọng và kính phục của một người em đối với bậc đàn chị đã suốt đời yêu và tận tụy với nghề dạy học. Cô còn là một người chị cao cả, đã hy sinh cả cuộc đời cho gia đình, cho em út và cho đàn cháu nhỏ. Tôi muôn phần cảm kích Cô.

Nhân một lần đến nhà thăm, cũng là lớp học Cô đang giảng dạy, Chị Bùi Thị Lợi chụp chung với Cô vào cuối năm 2008

Tôi về trường Trung Học NLSBD muộn màng. Tuy được Cô xem như một đồng nghiệp và hơn thế nữa, như một người em gái nhỏ, nhưng để tỏ lòng tôn kính của kẻ hậu sinh đối với bậc trưởng thượng nên ở đây tôi xin gọi Cô bằng Cô.

Ngày đầu tiên khi tôi về nhận việc tại trường, cảm giác xa lạ, lạc lõng được thay thế ngay bởi sự tử tế, săn đón, niềm nở và ân cần của Cô Nguyễn Nguyệt Yến. Người Cô lúc đó hơi gầy, tầm thước, lưng hơi gù, nên mỗi khi Cô ôm đống bài vở nặng trĩu trông Cô thật gầy gò, tiều tụy. Tuy thế, dáng Cô lại nhanh nhẹn và mau mắn. Cô nói năng lưu loát, gãy gọn và rất rõ ràng với giọng của người dân Sài Gòn. Nụ cười luôn gắn trên môi và lời săn đón, hỏi han, quan tâm đến mọi người chung quanh dường như không bao giờ thiếu ở Cô. Cô cư xử với đồng nghiệp bằng chân tình và lễ độ. Đối với học sinh thì Cô tận tụy và quý mến với tất cả tấm lòng của một nhà giáo có lương tâm và độ lượng. Điều mà tôi phục Cô nhiều nhất là Cô rất thông minh và có trí nhớ dai.

Chúng tôi rất hợp nhau khi bàn luận về chính trị, văn học và vô cùng tương đắc khi bình phẩm về những mẫu chuyện trong Đông Châu Liệt Quốc hay Tam Quốc Chí…

Dường như sách gì Cô cũng có đọc qua. Đặc biệt là Cô rất yêu thơ và thuộc rất nhiều bài thơ đủ thể loại, kể cả thơ trữ tình, lãng mạng. Có một lần tôi tâm sự với Cô về bài thơ tình lãng mạn đầu đời mà tôi đã được đọc và từ đó tôi có lòng yêu thơ luôn. Lúc đó tôi mới chừng 5, 6 tuổi, chưa được đi học. Một hôm lượm được một quyển sách của Ba tôi làm rơi xuống đất, tôi nhặt lên, không cần biết đó là sách gì, mở đại ra xem và trúng ngay bài “Tình Già” của Phan Khôi. Tuy còn nhỏ, nhưng khi đọc xong tôi cảm nhận được cái hay và đẹp tuyệt vời của thi thơ. Chỉ bằng mấy câu, bài thơ đã nói lên được “khối tình chết xuống tuyền đài chưa tan” của tác giả. Đọc xong tôi ngẩn ngơ và xúc động vô ngần. Khi tôi kể cho Cô nghe về bài thơ này, Cô cả cười và mắng tôi là “ranh con”, xong Cô vọt miệng đọc vanh vách:

“Hai mươi bốn năm xưa,
Một đêm vừa gió lại vừa mưa.
Dưới ngọn đền mờ,
Trong gian nhà nhỏ,
Hai mái đầu xanh kề nhau cùng than thở:
Ôi!  Đôi ta tình thương nhau thì đã nặng,
Mà lấy nhau thì chẳng đặng,
Chi cho bằng sớm liệu mà xa nhau.”

Bây giờ nghĩ lại, thử hỏi trong chúng ta và có thể cả Cô nữa, mấy ai không dấu ở một góc nào đó tận cùng trong trái tim, một mối tình già giống như của Phan Khôi?  Và nếu có duyên may gặp lại thì vẫn không dấu được những nỗi xúc động bồi hồi, rồi khi,

“Tiễn đưa nhau đi rồi,
Nhìn theo con mắt còn có đuôi.”

(Trích bài “Tình Già” của Phan Khôi)

Cho nên nhiều lúc tôi nghĩ có lẽ Cô chỉ dùng bề ngoài khó khăn, nghiêm khắc của mình để tỏ ra cứng cỏi và che dấu tình cảm dạt dào bên trong mà thôi. Điều này chắc không sai vì thường khi đi dạy về, tôi hay nghe Cô kể lể chuyện một học sinh phá phách thế này, em khác nghịch ngợm thế kia. Cô cằn nhằn, trách móc chút đỉnh rồi cười hì hì và kết luận, “Coi vậy chứ mấy đứa nghịch ngợm, phá nhiều nó lại thông minh, học giỏi. Tôi thích mấy đứa thông minh. Mình la rầy cầm chừng cầm, chìa thôi chứ tụi nó còn trẻ quá mà.”  Cô hay dùng đầu óc khôi hài, những lời nói dí dỏm để gây chú ý và làm cho học sinh dễ nhớ khi giảng bài, nhưng đồng thời cũng dùng đó để sửa lưng người khác một cách khéo léo, tế nhị mà người bị Cô chỉ trích ngầm chỉ cười trừ, không giận Cô được. Bản chất đôn hậu, nhiệt tình và đầy lòng tốt như Cô chỉ có thể phát xuất từ nơi một người giàu tình cảm mà thôi.

Nhờ sự chỉ dẫn tận tình của Cô Yến nên tôi đến hỏi thuê được một căn phòng trọ trên gác lầu của một ngôi nhà biệt lập, nằm khuất trong lùm cây xanh giữa khu đồng trống gần trường học và chợ Búng. Tôi yêu thích chốn này ngay từ lúc đầu khi nhìn thấy lùm cây trong đó có đủ loại cây kiểng và cây ăn trái. Có giàn dưa tây xanh mướt che mát trên lối vào. Có giàn gấc đeo trái đỏ ửng tòn ten bên cửa sổ. Và yêu nhất là gốc ngọc lan già rợp bóng, tỏa ngát hương thơm phủ xuống cầu thang đi lên lầu từ bên hông nhà. Từ đó và mãi về sau, mùi hương ngọc lan cùng hình ảnh Cô Yến hình như không rời nhau và đã theo tôi ra tận nước ngoài. Bởi vì, Cô đã dọn về đó ở chung với tôi và suốt thời gian này tôi đã nợ Cô một món nợ ân tình chưa trả dứt, cùng với bao kỷ niệm đậm tình chị em khó quên.

Càng về sau, tôi càng hiểu thêm phần nào tâm tư và lòng tốt của Cô. Những ngày ở lại Búng là khi chúng tôi dồn giờ, dạy liên tục cho đến hết xong mới về Sài gòn. Thường như vậy thì dạy nhiều lớp và chấm nhiều bài vở hơn. Phòng có 2 giường ngủ và một bàn viết dùng để chấm bài, viết lách. Cô Yến là người luôn có nhiều bài vở để chấm nhất. Khi nhường bàn cho tôi thì Cô ngồi ngay trên giường mà chấm bài giờ này qua giờ khác, không biết mỏi. Tôi thường thắc mắc sao Cô cho học trò làm bài kiểm nhiều quá vậy.

Cô phân trần, “Phải vậy mới được Thu à. Toán là môn mau nhớ nhưng quên cũng lẹ lắm. Lơ là một chút là học sinh quên ngay.” 

Tôi bày vẽ, “Thì Cô bớt lại chút thôi, cho Cô đỡ mệt mà học sinh cũng đỡ lo sốt vó.”

Cô phản đối ngay, “Ý, không được đâu. Môn Toán thường quyết định then chốt cho sự đậu rớt mỗi khi đi thi. Các em trai rớt thì phải đi lính, nguy hiểm đến tánh mạng, còn các em gái rớt thì ở nhà giúp việc cho gia đình hoặc có chồng con sớm, đường nào cũng cực khổ, tội nghiệp lắm. Thôi, cứ ép các em học như vậy, thà mang tiếng khó mà mình thấy yên tâm hơn.” 

Tôi hết sức đồng ý với Cô về điểm này tuy không nói ra. Cô đã lo cái lo chung của bậc làm cha mẹ luôn nghĩ đến tương lai con cái. Mấy ai hiểu được tấm lòng này của Cô?

Sống gần Cô lâu hơn, nói chuyện tâm tình cởi mở với nhau nhiều rồi, tôi mới biết Cô đã thương yêu và quý mến tôi qua hình ảnh của một người em gái ruột của Cô đã mất từ nhiều năm. Theo lời Cô kể, em gái Cô lúc chết cũng chỉ trạc tuổi tôi, vóc dáng cũng mảnh mai, yếu đuối tương tự. Cũng mái tóc dài và tính tình hơi có chút lém lỉnh, liếng thoắng như tôi. Cô vì quá thương yêu, muốn bảo vệ và lo lắng cho tương lai em mình nên đã hết sức khắc khe, nghiêm nhặt khi em còn sống. Giờ em không còn nữa, Cô hối hận vô ngần, tự trách móc mình đã không dành nhiều thời giờ để gần gũi, chăm sóc em đầy đủ, và đã không dễ dãi với em hơn. Cô mồ côi mẹ rất sớm, một mình đã vừa lo mưu sinh gánh vác gia đình, vừa chăm nom em út, lại còn đi học để cầu tiến. “Cô đã thế vai trò một người mẹ và làm quá bổn phận một người chị đối với các em Cô rồi. Không ai có thể làm khá hơn như Cô đã làm,” tôi thường khuyên Cô như vậy. Cô đã dồn hết sự thương yêu, lo lắng, quan tâm và săn sóc lên tôi như để bù đắp lại cho người em gái năm xưa mà Cô đã lỡ mất cơ hội. Và Cô thường hay chép miệng nuối tiếc, “Tôi mà biết nó chết sớm như vậy thì tôi không khó với nó đâu.”  Cô ơi, Cô đã khó khăn, nghiêm khắc đối với em Cô cũng như với các học sinh chỉ vì Cô muốn mọi điều tốt lành cho họ mà thôi. Tôi thành tâm cầu mong ở một góc trời "Tây Phương Cực Lạc" nào đó, em Cô đã thấu hiểu tấm lòng người chị cao cả này, và nơi nhân thế Cô được mọi người thông cảm cho nhiều hơn.

Những ngày ở lại Búng chung với Cô, tôi đã thừa hưởng cái diễm phúc của một người em nhỏ được bà chị lớn chăm nom và cưng chiều. Cô nấu ăn thật ngon và thường dành phần lo chuyện bếp núc vì Cô chê tôi vụng về trong việc này. Cô không sai!  Vì đến giờ tôi vẫn chưa khá được trong lãnh vực chuyên môn phức tạp này. Đến bây giờ tôi vẫn thèm ăn món canh chua “dã chiến” chỉ nấu có khóm với tôm khô thôi, cùng món mực con ram xả ớt của Cô mà tôi chưa hề làm cho “tới” như Cô đã làm. Sau năm 75, tôi bị chuyển về ty Nông Nghiệp Bình Dương rồi bị gửi đi lao động nhiều nơi xa xôi hẻo lánh. Những lần đầu Cô thường tình nguyện cùng đi theo đến những nơi xa lạ này để bảo vệ và che chở cho tôi, với lý do “để Thu quen đường đi nước bước.”  Tôi vô vàn cảm động trước chân tình của Cô. Một người chị ruột cũng chỉ có thể tốt và lo lắng cho em mình đến thế mà thôi. Những lúc tôi đi vượt biên bị trục trặc trắc trở, tinh thần xuống dốc tột độ, hoặc gặp khó khăn trong gia đình, nhà Cô là nơi tôi tìm đến vì cần một sự an ủi, vỗ về. Thâm tình này biết bao giờ tôi quên được?

Dạy học là nghề Cô đã chọn lựa ngay từ lúc còn trẻ và quyết chí theo đuổi tới cùng. Sau năm 75, ngoài những ngày đến trường dạy, còn lại ngày nào cũng thế, mỗi sáng sớm Cô đều mang nhiều thúng gạo đầy vung ra ngay đầu con hẽm nhỏ từ chợ Trương Minh Giảng nối vào nhà Cô, để bán gạo lẻ. Những ngày rỗi rảnh tôi thường ra đó ngồi chơi và bán phụ với Cô vì Cô được rất đông người mua. Nhờ đó tôi mới biết được là Cô thật lanh lợi, có khiếu buôn bán và tính toán rất nhậm lẹ, chính xác. Cô ăn nói vui vẻ, khôi hài, niềm nở, lại tốt bụng nên rất được lòng khách hàng. Tôi thường nói với Cô là nếu Cô xoay qua nghề buôn bán chắc sẽ thành công và có nhiều lợi tức hơn nghề đi dạy học nữa. Cô khẳng định, “Ừ, đúng đó. Tôi từ nhỏ đã có giang buôn bán rồi. Bán cái gì cũng chạy hết. Nhưng bán đây là để kiếm thêm phụ vào sự chi dùng, chứ tôi tuy hoàn cảnh gia đình khó khăn mà vẫn quyết chí đi học để đạt được nghề dạy học. Con đường mình đi đã tới đích rồi, dù thế nào mình cũng không bỏ.”  Và tôi hiểu Cô đã chọn nghề dạy học như là một thiên chức cho chính mình rồi.

Hình ảnh mỏi mòn, chịu đựng và kiên trì của Cô cùng với dáng dấp ròm rõi, từng bước leo lên bậc thang bên gác trọ, nơi mà mùi hương ngọc lan ngọt ngào, thơm ngát quanh năm quyện với bao kỷ niệm của những ngày tháng sống chung, đã in sâu vào lòng tôi suốt quãng đời tha hương. Nơi đây tôi cũng không khá hơn Cô, cũng vật lộn với cuộc sống, cũng gồng gánh đời mình leo lên con dốc ngược. Tôi luôn nghĩ về Cô để rồi thương cảm ngậm ngùi, lòng ray rức vì thấy mình bất lực, không giúp nhau được. Và có thể tôi và Cô cùng đồng bịnh, là cố dấu nỗi đoạn trường riêng để khỏi làm đau lòng nhau. Năm 2005, tôi về Sài gòn một thoáng chốc vì công việc, nhưng cũng ráng tạt qua thăm Cô. Lúc đó vì bất ngờ, tôi chỉ kịp báo trước cho Cô khoảng mười phút, nên Cô tiếp tôi ở ngay lớp học tại nhà, trước bao em học trò cách Cô lối 2 thế hệ. Cô không thay đổi mấy ngoại trừ nét mặt đã hằn lên tháng năm dài và vóc dáng hơi có da thịt hơn xưa. Cô bảo, “Nghỉ dạy rồi cũng buồn chán lắm. Vả lại cha mẹ các em học sinh đây đều là lối xóm, họ năn nỉ dạy giúp cho con em họ, tôi nể tình họ, thương mấy em nhỏ, mà mình cũng cần kiếm sống, nên cứ tiếp tục dạy tại nhà.”  Cô vẫn còn giữ được phong độ ngày nào. Dù ởtừng tuổi nào, dù hoàn cảnh ra sao, Cô vẫn một mực giữ vững lòng tự trọng, sự độc lập tự túc, tinh thần trách nhiệm của một nhà giáo và lòng nhân hậu đối với mọi người chung quanh. Cám ơn trời đất đã cho Cô một sức khỏe tương đối dồi dào và một khối óc minh mẫn bền lâu để Cô theo đuổi ước nguyện của mình cho tới cùng.

Cô vẫn tiếp tục nghề dạy học cho đến khi cận kề với cái chết. Đối với riêng tôi, Cô như là một chiến sĩ kiên cường đã chết trên yên ngựa vậy.

Tôi thường tự hỏi, với tình hình văn hóa suy đồi, nền giáo dục tan tác như hiện nay, sau thế hệ của những người có lương tâm và tận tụy với nghề giáo cho đến hơi thở cuối cùng như Cô và một số đồng nghiệp trước và đương thời với Cô, liệu giờ đây còn có được mấy ai như vậy nơi quê nhà? Hay chỉ còn trong hoài niệm với bao thương tiếc để rồi thầm hỏi,

“Những người muôn năm trước,
Hồn ở đâu bây giờ?”

(Trích thơ “Ông Đồ già” của Vũ Đình Liên)

Xin hãy về đây! Xin hãy cho tôi một phút giây giao cảm cùng người để chứng nhận niềm tôn kính, niềm cảm kích và bái phục vô bờ của tôi. Lúc còn ở chung nơi gác trọ, Cô thường hay hái hoa ngọc lan giắt lên vành tai hay bỏ vào túi sách mỗi khi đi dạy. Giờ đây nếu được, tôi xin gom hết hoa ngọc lan trên cõi đời, để mùi hương thơm tho bay tỏa đến Cô như một biểu dương một cuộc đời trong sáng và tấm gương đáng cho chúng tôi noi theo.

Nguyễn Thị Thu
San Jose Oct 29, 2011