Thầy Châu Kim Lang

Lâu lắm rồi, ít khi tôi nhận thư tín gởi đến, ngoại trừ dịp tết nguyên đán được vài thiệp chúc tết của học sinh, sinh viên cũ nhớ thăm thầy. Hôm nay tôi nhận được một bưu kiện khoảng hơn 1 kg từ nước Mỹ gởi về. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi nhận được quà từ nước ngoài. Ký tên vào phiếu nhận, nhìn xem tên người gởi:Tăng Bỉnh Chương.

Ố, Anh Chương, tôi nhận ra ngay học sinh NLS BL, lớp CN 69-72. Tôi lần lượt mở bưu kiện.

Món quà thứ nhất là một hộp bọc vải gấm màu xanh xám. tôi rất hồi hộp, không biết bên trong đựng gì. Chẳng lẽ hộp nữ trang? Không phải, vì hộp nữ trang thường nhỏ có dạng hình tròn, màu đỏ hoặc vàng. Còn hộp nầy hình rẽ quạt, trên mặt hộp có 4 chữ Nho viết thảo tôi không đọc được. Mở ngay ra xem, thì ra hộp đựng bút lông để viết chữ nho gồm 5 bút thân gỗ nhỏ màu nâu sáng, đầu to và đầu nhỏ đều gắn lông. Một thỏi mực đen bằng ngón tay trỏ in 3 chữ nho màu vàng sáng chói; một nghiên mực hình như bằng đá ba-zan màu đen, 2 chén chung, một chén đựng phẩm son đỏ. Lại còn có đồ gác bút bằng sành và que nhỏ bằng đồng như cái gáo múc mực. Có lẽ Anh CHƯƠNG đã đọc bài “Lớp học chữ Nho” nên gởi tặng tôi món quà nầy. Tôi định mở tiếp món quà thứ hai, nhưng ngần ngừ một phần vì món quà nầy nặng, lắc nghe lục cục, vả lại hộp bút nghiên thu hút tôi hơn. Tôi tiếp tục ngấm nghía bộ bút lông. Bốn chữ thảo ở nấp hộp tôi chỉ đọc được chữ 文(Văn), còn ba chữ kia không đoán ra được, phải tra tự điển chữ thảo: 文 友 少 寶Văn hữu thiểu bảo (vật quý nhỏ bé của bạn văn). Tôi tò mò xem dưới đáy hai chén chung ghi 4 chữ 乾 隆 年 制 Càn Long Niên Chế (Chế tạo năm vua Càn Long). Trời ơi! Nếu đây là đồ cổ thật thì đắc giá lắm Anh CHƯƠNG ơi! Tôi lấy kính lúp rà lại từng món xem coi có còn chữ Nho nào nữa không. Chỉ có thỏi mực đen ghi chữ Nho. Mặt trước 3 chữ màu vàng sáng chói 狀 元 絚 Trạng nguyên cánh (hoàn tất trạng nguyên).Mặt sau có 6 chữ nỗi: 嶶 歙 曹 素 功 製ViThiệp tào tố công chế (Nhóm Vi Thiệp chế tạo thành công). Tra từ điển mới biết Thiệp là tên huyện ở tỉnh An Huy (Trung Quốc) nổi tiếng sản xuất nghiên mực rất tốt.

Tôi mở tiếp món quà thứ hai: bộ sưu tập nham thạch, các loại đá và tinh khoáng! Lập tức tôi nhớ lại ngay những giờ dạy môn Địa chất học ở NLS BL! Phải chăng giờ học môn học nầy đã tác động mạnh mẽ đến ngày hôm nay sau gần bốn mươi năm mà Anh CHƯƠNG còn ghi nhớ và gởi tặng tôi làm kỷ niệm! Tôi ngồi lịm người nhớ đến Cô Võ Thị Thúy Lan, người dạy môn nầy trước tôi, nhớ đến Thầy TS Trần Kim Thạch, dạy Nham thạch học ở Trường Đại học khoa học Saigon, nhớ lại những giờ thực tập địa chất… Ôi, bao nhiêu kỷ niệm dồn dập hiện lại… môn Địa chất học dạy cho lớp Đệ Tam Canh nông. Tôi bắt mỗi học sinh phải sưu tầm vài mẫu nham thạch. Đa số học sinh ở Bảo Lộc chỉ tìm mẫu ba-zan màu đen, nâu xậm, vài em xuống Định Quán tìm được granit màu xám tro lóm đóm đen trắng. Một số học sinh ở Phan Rang mang lên những viên sỏi bị nước biển bào mòn trơn láng, hầu hết là sa thạch trầm tích có từng lớp màu khác nhau. Riêng anh Nguyễn Thanh Ngọc (CN 67-70) tặng tôi một số mẫu nham thạch mà anh đã sưu tầm ở Đà Lạt, anh gắn vào bìa cát-tông cứng có vẻ “chuyên nghiệp” lắm. Tôi nhận ra có mẫu thạch anh to bằng ngón tay đầu nhọn lục lăng. Khoảng năm 1970-71, đoàn khảo sát địa chất của Trường Đại học khoa học ghé qua Trường NLS BL buổi chiều tối, tôi mời về nhà tôi nghỉ. Đêm đó, tôi mang ra một mớ nham thạch có ý “khoe” với GS Trần Kim Thạch. Thầy Thạch chọn ra một mẫu nhỏ bằng đầu ngón tay trỏ màu đen, đầu tròn, đầu nhọn hình giọt nước, bề mặt bị rỗ lốm đốm, Thầy hỏi tôi mẫu nầy tên gì. Thật tình, tôi bí, màu đen nhưng không phải ba-zan. Trước khi giải thích, Thầy hỏi:

-Anh Lang tìm mẫu nầy ở đâu?

-Dạ thưa Thầy, mẫu nầy học trò của em tìm ở Đà Lạt.

Thầy cười nhẹ nhàng: nếu anh Lang trả lời ở nơi khác thì không đúng, chỉ có vùng Đà Lạt mới có mẫu nầy. Tôi hết sức ngạc nhiên, Thầy giải thích: Đây là cái tàn của vẫn thạch, khi rơi vào bầu khí quyển của trái đất, bị cháy tung tóe, đến mặt đất chỉ còn tàn nhỏ mà thôi, có hình giọt nước, đầu tròn đầu nhọn. Tôi mừng lắm, đây là “bảo vật”, cất riêng. Tôi gìn giữ nó cho tới ngày hôm nay ở ngăn kéo bàn làm việc. Trong ngăn kéo nầy tôi để viên vẫn thạch cạnh chiếc rìu đá của người tiền sử mà tôi đã sưu tập được khi đi du khảo thực địa. Khi nào ngẫm nghĩ về cuộc đời trên thế gian nầy, tôi thường lấy chúng ra ngấm nghía: một nầy ở ngoài địa cầu mà đến đây cách xa hàng triệu năm ánh sáng, một kia là dụng cụ sinh sống của người tiền sử cách nay bốn trăm ngàn năm!! Vậy, đời người đâu là gì cả....

Tôi đếm cả thảy 42 viên nham thạch tình khoáng lớn nhỏ, đủ màu sắc, thô nhám, láng bóng…Riêng một túi ni-long nhỏ cứng trong suốt, có ghi  1 carat Midnight Sapphire mà không thấy viên sa-phia đâu. Có lẽ nhân viên bưu điện khi kiểm tra đã lấy mất rồi chăng?

Ngoài hai món quà, còn lại là mớ giấy, tôi nghĩ là giấy độn, lót cho êm trong gói hàng. Đứa em của tôi nói chơi: Anh coi kỹ, biết đâu có lẫn đô la!

Một xấp trang National Geographic về cổ sinh vật học, in hình các loại mammoth, khủng long, các loại côn trùng… và mấy tờ  photocopy. Mắt mờ, tôi phải dùng kính lúp, đây không phải giấy độn, mà là xấp bài thơ?  hồi ký? Photocopy chữ quá nhỏ, tôi không xác định được là loại gì. Đếm được 5 tờ photo hai mặt, in ngược xuôi lộn xộn, những bài thơ hình như còn đang nháp, có trang  lẫn bài học, hình vẽ ghi các thành phần lá cây…

Tôi chọn một bài thơ, có lẽ là nỗi niềm tâm tình hoài cổ của tác giả:

Thăm trường cũ

Ghé trường cũ nắng chiều hiu hắt
Cảnh quang xưa ngờ ngợ chút thôi
Bao nhiêu năm, vật đổi sao dời
Chẳng tu tạo chưa điêu tàn cũng lạ
Sao vắng vẻ hóa ra ngày cuối hạ
Cánh phượng buồn khô úa bụi ven đường
Hoàng hoa lộ sắc vàng chen lá thắm
Rừng… sao… cổ thụ vẻ trầm tư
Bước lang thang hồi hộp chẳng bóng người
Từ xa lại biết đâu thầy bạn cũ
Nhìn bỡ ngỡ hóa ra người lạ cả
Định thăm hỏi cô thầy nhân viên cũ
Bỗng ngập ngừng khó mở miệng nên lời
Ba mươi năm thêm thời cuộc đổi dời
Trò sáu chục, thầy cô ai còn mất?
Mấy Bố già tám, chin mươi gần đất:
Thầy Ông ngoại trăm mốt hẵn về trời? (1)
Nhà cụ ở chắc giờ đây đổi chủ
Qua nhà cụ khẽ cúi đầu tự nhủ
Cầu hồn thiêng cụ sớm đến tây phương
Bài học xưa mấy kẻ nhớ nằm lòng (2)
Theo đức độ như chỉ nam mẫu mực
Không dám hỏi tự nhủ lòng an ủi
Trường già nua, người còn mất đương nhiên
Kẻ tha phương gần cuối cuộc đời
Người ở lại bao nhiêu thành đạt
Mai phiêu bạt như mây ngàn hạc nội
Buồn hay vui chút kỷ niệm chung trường.

(1)    Thầy Nguyễn Viết Trực

(2)   định nghĩa nông nghiệp: “Nông nghiệp theo định nghĩa hẹp là nghề trồng lúa, theo nghĩa rộng bao gồm cả việc chăn nuôi, trồng dâu nuôi tằm, trồng cây gây rừng và đào ao thả cá nữa. Nông nghiệp là một nghệ thuật không phải tìm cái tuyệt hay tuyệt mỹ mà là tìm mối lợi lớn. Chính mối lợi nầy quyết định chúng ta những gì phải làm và những gì cần phải tránh.(Bài giảng Nông học toát yếu của Thầy Ng. V. Trực)”.

Còn nhiều bài thơ nữa, có lẽ đang nháp, nhiều chỗ xóa, thêm bớt… Đề nghị tác giả chỉnh sửa rồi gởi trang nhà nlsbaoloc.net đăng cho bạn bè thầy cô cùng thưởng thức, nhớ lại kỷ niệm một thời thơ mộng với những nỗi vui buồn một thời ở NLS Bảo Lộc…

Châu Kim Lang

(Saigon, ngày 17-1-2013)

Ghi chú: Địa chỉ người gởi ở bên ngoài bưu kiện bị xé mất, còn ở Phiếu nhận hàng ghi chữ viết tôi đọc không ra, nhưng vẫn theo đó gởi thư  cảm ơn anh Chương, không biết thư có đến nơi không. Nhân dịp Tết, chúc Anh Chương và gia đình an khang thịnh vượng (Thầy CKL)