Nguyễn Hữu Trí
     Bao năm qua đi, những người đã một thời cùng học dưới mái trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc, theo vận nước nổi trôi, mỗi người dạt trôi ở một góc trời, đối mặt với cuộc sống lắm bận rộn, nhiều lo toan, nhưng tâm tình chốn cũ vẫn còn đó, vẫn âm ỉ, vẫn réo gọi. 
     Anh Nguyễn Hữu Trí, người anh em của chúng ta, sau bao năm kiếm tìm đã gặp được bầy đàn, tìm được mái ấm, Trang Nhà NLS-BL, một điểm hẹn, một chốn tìm về, nơi ta có thể trải lòng, tâm tình, kể lể, nhắc nhớ cho nhau những kỷ niệm ở quảng đời cũ vừa chợt đó đã vội trôi xa. 
     Tạm gác sự bận rộn thường ngày, anh Trí tâm tình với chúng ta, bài thơ “Đi mây về gió” (đã đăng) chỉ là phần đầu của hơn mười mấy trang viết tay, nay chúng tôi xin đăng phần kế tiếp. Trang Nhà xin nhận lỗi cho sự chậm trễ vì phải đánh máy lại. Xin tất cả hãy lắng lòng đón nhận tâm tình của anh Trí. (Trang Nhà)
 
Lớp Đệ Ngũ Năm Xưa – Nguyễn Hữu Trí
 
Tôi mừng lắm, dường như hạnh phúc quanh đây mà có cảm tưởng mình đang được sống lại trong ký ức với bao kỷ niệm vui buồn một thời dưới mái trường thân yêu xa xưa ấy, cách nay hơn bốn mươi năm rồi.
 
Gia đình tôi ở Bảo Lộc từ năm 1960, nhà ở đường Cộng Hòa ngay ngã tư quốc lộ 20 và một phía là cầu trắng đi lên chợ Bảo Lộc, Tòa Hành Chánh Tỉnh, (phía ngược lại là đường Cộng Hòa mà đầu đường có tiệm chụp hình tên Photo Tiên Dung). Động viên, ba tôi phải đi lính đóng quân ở Biên Hòa, đến năm 1966 mới trở về làm tại Tòa Hành Chính Tỉnh Bảo Lộc. Má tôi ở nhà làm bánh in đậu xanh hiệu là Hạnh Dung, (tên của hai em gái tôi). Tôi đi bán, bán ở đây có nghĩa là đi bỏ mối ở các tiệm tạp hóa, các chợ, trường học, các tiệm bánh mà họ không làm loại này.  Thường thì sau giờ học buổi chiều, bánh được in ra, tôi gói lại bằng giấy kiếng trắng hay bóng mờ, chất vào giỏ, cột lên xe đạp mang đi, một tuần đi 2-3 lần và sáng Chủ Nhật. Hôm nào họ bán hết thì đỡ lắm, bằng không là đem về ăn muốn ngán luôn. Bán theo kiểu ký gửi ấy mà, giao bánh trước để họ bán, lần sau đến kiểm, bán bao nhiêu tính tiền bấy nhiêu, còn lại cũ, hư, tốt trả lại hết để lấy bánh mới đến.
 
Các trường học như: trường Tiểu Học Bảo Lộc, bác Cai vừa làm ở trường vừa có cái quán bán bánh kẹo (hình như Nguyễn văn Hiệp MS 68-73 ở đây thì phải?). Trường Trung Học Bảo Lộc, trường của các cô nữ sinh áo len tím một thời, tôi học ở đây lớp đệ thất, đệ lục (66-68), thời gian này tôi cũng bán bánh ở cửa hàng bác Câu làm trong trường. Trường NLS Bảo Lộc, thì tôi bán bánh ở quán bún bò bà Tráng, chỉ bán mấy tháng có học sinh thôi (Trần văn Viên ở đây, học lớp tôi sau này), lúc đó mỗi lần vô trường là không dám đi lung tung sợ bị an ninh bắt. Trường Bồ Đề nằm trong khuôn viên của chùa Bảo Lộc, tôi chỉ bán ở các tiệm tạp hóa phía ngoài cổng. Nói tới đây tôi phải nhắc đến anh Bùi Tho, anh ấy vừa là khóa đàn anh cùng trường và cũng là Huynh Trưởng một thời của tôi.
 
Cái máu NLS có trong tôi rất sớm, lúc 13 tuổi tôi đã đóng một cái chuồng nuôi mấy con thỏ. Tôi hay ra chợ vào buổi chiều để xin rau cải họ bỏ đi, hay đến các sở trà như Soven Lê Minh Sanh cắt cỏ (hình như sở này có ai đó học chung với tôi) về cho thỏ ăn. Thú vị là ở chỗ hôm nào trời nắng nóng, ngắt mấy trái trà vỏ ngoài còn xanh, cắn bể, hút chất nước sền sệt bên trong có vị ngọt ngọt chát chát là thấy đỡ khát nước.  Tôi không hiểu sao mà thỏ đẻ quá chừng, đẻ ơi là đẻ, có 7-8 tháng thôi, kiếm cho nó ăn không kịp, phải đem đi cho hàng xóm bớt. Thỉnh thoảng chị Hoàng Kim Đỉnh (MS 66-69, ở nhà bên cạnh) qua nhà tôi ngồi nhìn mấy con thỏ. Lúc này tôi muốn vô trường NLS học lắm, vì tôi thấy nó rộng lớn, nó đẹp quá, kiến trúc nhà cửa trường lớp mới lạ, cây cối xanh tươi mát mắt, chứ lúc ấy tôi có biết khái niệm miễn thi, miễn tuổi gì đâu. Tôi lại biết trường này có nhiều học sinh ở các nơi trên toàn quốc đến học, rất ít dân địa phương vô đây học, không biết tại sao? Thế là gần cuối năm đệ lục, tôi theo dõi ở văn phòng NLS xin đơn về và xin phép Ba Má tôi cho tôi học trường này, giúp tôi làm đơn xin thi tuyển vào lớp đệ Ngũ.
 
Mấy tháng mùa hè ở Bảo Lộc, mưa ơi là mưa, mưa dầm dề, mưa ngày mưa đêm nên trồng trọt không cần hệ thống tưới nước mà vẫn lớn mạnh như thường. Nhận được giấy báo thi gửi về nhà, địa điểm thi tại Đại Thính Đường của trường. Sáng hôm thi đầu tiên, Ba tôi đưa tôi đi, trước khi đến ĐTĐ thì Ba ghé thăm một người quen, nhà ở gần cổng sau của trường (tôi không biết tên). Ở đây tôi (nghe giới thiệu) tình cờ gặp Nguyễn Ngọc Dũng (TL 68-73) từ Ban Mê Thuột xuống trọ ở đây để thi vào lớp đệ ngũ như tôi, tự nhiên tôi cảm thấy bạn Dũng chắc thi đậu và đúng y như rằng.
 
Những ngày thi trời lúc nào cũng âm u, rồi mưa, ngày thi kéo dài 2 ngày, mình còn nhỏ nên thấy ĐTĐ rộng cao lớn ghê, rất đông thí sinh dự thi, mỗi người một ghế một bàn dính liền. Ngày thi đầu, tôi cũng cố gắng thôi, không biết làm bài có đúng hay không? Nhưng môn thi cuối cùng là kiến thức phổ thông, đề thi bảo vẽ con heo, vẽ cây chuối. Tôi còn nhớ, tôi vui quá, cái này tôi bảo đảm làm đúng 100%  vì nhà tôi có hai thứ này, (bà Ngoại tôi nuôi heo và trồng chuối đằng sau nhà, hiện Bà 103 tuổi, sống ở San Diego), chỉ có điều đẹp hay không đối với người chấm thi thôi. Thật sự tôi biết tôi học dở tệ, mê chơi hơn ham học, ham đi câu cá, bắt dế thả diều ở hồ Bảo Lộc. Những ngày tháng RMK làm đường, họ mở rộng quốc lộ 20 cạnh hồ Bảo Lộc, chỉ cần dở đất mới cầy lên là thấy dế, bắt về cho dế đá nhau. Sân rộng dài tha hồ thả diều, câu cá Diết, cá Chép thấy mà ham, ham vui ham chơi đến nỗi phải bị một trận đòn vì đi câu cá ngày Rằm, mình còn nhỏ đâu có biết gì!
 
Thời gian đó thỉnh thoảng thứ bẩy hay chủ nhật, tôi một mình với xe đạp và con dao phát đi vô rừng phía phi trường mới làm, sau Toà Tỉnh để chặt cây về làm dàn su su. Khi đi thì đạp, khi về thì dẫn bộ vì hai bên xe cột hai bó cây rồi. Lúc đi thì thường là trời nắng ráo, lúc về có hôm mưa to ướt như chuột lột. Vô rừng cũng vui, tiếc là không có bạn đồng hành, mình nói mình nghe, hái lan rừng và nghe chim hót thì có chứ không thấy khỉ. Có hôm tôi bị con đỉa bám bấu gỡ không kịp bị nó cắn chảy máu, sau lần đó mỗi khi đi rừng là tôi thoa xà bông lên da cho trơn là nó hết bám.
 
Chờ đợi và chờ đợi, khoảng tháng 8/1968, anh Hoàng Đình Trí (TL 66-69, anh của chị Hoàng Kim Đỉnh) lên Bảo Lộc đi học NLS ở nhà Cô Giáo Châu, bên cạnh nhà tôi, anh ấy lên sớm trước ngày nhập học rủ tôi đi thăm trường NLS Bảo Lộc. Buổi sáng hôm đó trời không nắng, anh ấy dẫn tôi đi khắp nơi trong trường, vừa đi vừa hướng dẫn, giới thiệu cho tôi biết, như là đi du sát vậy, tôi mê lắm và mong ước được thi đậu.
 
Nghỉ hè, trường không có học sinh nên tôi cũng nghỉ bán bánh ở quán bà Tráng, cứ 2-3 ngày là tôi chạy vào văn phòng trường dò hỏi kết quả. Buổi sáng đó khoảng 10 giờ, trời mưa, như thường lệ ghé vào văn phòng hỏi thăm bác Nhất, nhưng câu trả lời của bác ấy không phải là: “chưa có” mà là: “Cậu rớt rồi”. Trời ơi, tôi nghe mà nặng chĩu cả người, coi như mộng đã tan tành. Bước chân ra cửa, mặc áo mưa chuẩn bị ra về thấy buồn ơi là buồn. Tôi giật mình khi nghe bác Nhất gọi lại: “Cậu ơi! Cậu tên gì?”, tôi vừa bước trở lại vừa nói tên tôi, tay cầm danh sách bác Nhất nói: “Cậu là người may mắn, cậu đậu hạng 49, có 2 người đậu hạng 49, không có hạng 50”, rồi bác đưa danh sách cho tôi xem, vì danh sách chưa được niêm yết, tôi thấy dưới tên tôi có vài tên đậu dự khuyết nữa. Tôi mừng quá cỡ, trời đang mưa to mà tôi vẫn đạp xe nhanh về nhà. Vào nhà thấy Má tôi đang làm bánh, vừa tiếp chuyện cô giáo Châu sang thăm, tôi chào khách rồi tới nói nhỏ với Má tôi là tôi thi đậu rồi, má tôi nhắc lại và họ nhìn tôi cười như chúc mừng. Đến tối ngồi ăn cơm, tôi mới nói là tôi đậu hạng chót, Má đừng nói ai nghe.
 
Những ngày kế tiếp, gia đình tôi trở nên bận rộn, lo thu xếp để di chuyển về Sài Gòn vì Ba tôi có công việc mới ở đó, riêng tôi trở nên rộn ràng lo thu xếp để nội trú trong trường.
 
Trường NLS Bảo Lộc chuẩn bị khai giảng niên khóa 68-69, thì có hai ngưởi từ Sài Gòn lên nhà tôi, là người cùng làng quê với Ba Má tôi, vai trong họ lớn hơn nên tôi phải gọi bằng Bà Cô, đi theo là người con trai, tôi gọi là chú Hoành, Trần Châu Hoành (MS 68-71). Qua sự giới thiệu mà tôi nghe rõ được thì chú ấy đậu hạng 3 vào lớp Đệ Tam ban MS, nghe tới đây tôi thấy mắc cở quá đi thôi. Má tôi cũng giới thiệu là tôi cũng thi đậu vào lớp đệ Ngũ niên khoá nầy nhưng không nói là đậu hạng mấy. Bà Cô đưa chú Hoành lên làm thủ tục nhập trường và sẽ ở nội trú để đi học.
 
Khi biết chú Hoành được nhà trường sắp xếp ở lưu xá A, thì Ba tôi dẫn tôi vào văn phòng trường xin phép cho tôi được ở chung cùng lưu xá với chú Hoành để có thể giúp đỡ tôi vì tôi còn nhỏ quá, mới 14 tuổi (lớp Ngũ, Tứ phải ở lưu xá D). Nhập học được vài ngày, tôi dọn đồ vào lưu xá nhưng chưa ở, phòng của tôi là phòng cuối, dẫy trái, phía bên trong. Mấy ngày này tôi nôn nao muốn vô trường ở, nên cứ hối Má tôi đi về Sài Gòn nhanh lên.
 
Gia đình tôi di chuyển về Sài Gòn làm 2 đợt, đợt thứ nhất đi trước một tháng để lo nhà ở và trường học, đợt thứ hai còn lại Bà Ngoại, Má tôi và ba đứa em chưa đến tuổi đi học. Sau khi tôi đi học ở trường NLS được một tuần, ngày Chủ Nhật là ngày lên đường của đợt thứ hai. Từ sáng sớm tôi đã giúp đem đồ đạc từ trong nhà ra ngoài ngã tư (Quốc lộ 20 và cầu trắng lên chợ), đứng bên tiệm phở Ngọc Hương để chờ đón xe đò Hiệp Lợi từ trên chợ xuống. Sau khi xe đò lăn bánh về hướng Sài Gòn, chỉ còn lại mình tôi ở Bảo Lộc, tôi lủi thủi đi về trường, vào lưu xá A. Ở đây thật là mới mẻ đối với tôi, chưa quen ai hết, chỉ biết chú Hoành lần đầu, không hiểu nhau xem như hoàn toàn xa lạ tất cả, tôi gặp các anh lớp lớn hơn chỉ biết chào thôi. Đến chiều sau khi ăn cơm ở Cậu Lạc Bộ (Nhà Bàn) tôi thấy nhớ nhà, nhớ gia đình quá, tôi lại lội bộ ra căn nhà tôi ở trước đây, nhưng chỉ đi qua và dừng lại ở hàng rào nhìn vào thôi vì đã có người mướn dọn vào ngay ngày hôm đó. Thật khó ngủ vì nhớ nhà, mấy hôm trước thì hối gia đình dọn đi mau, thật đúng tôi còn nhỏ. Đến cuối tuần tôi cũng ra thăm căn nhà tôi ở trước đây.
 
Kể từ ngày tôi tiễn gia đình đi cũng là ngày chấm dứt luôn việc bán bánh, cũng không câu cá, bắt dế hay thả diều nữa, cuộc sống của tôi bắt đầu thay đổi, mọi sự phải tự mình suy nghĩ và hành động như tất cả mọi người sống nội trú ở đây.  Sự bận rộn của việc học hành, sinh hoạt hàng ngày đã làm tôi quen dần, bớt nhớ nhà. Ở lưu xá A chỉ có tôi và Nguyễn Văn Thắng học chung lớp là nhỏ thôi, còn tất cả là các anh của khóa 68-71, tôi biết nhiều nhưng không thể nhớ tên. Tôi ở chung phòng với anh Nguyễn Minh Trạch, LH Dang, Trần Châu Hoành, phòng bên cạnh là Nguyễn Thanh Danh, Nguyễn Văn Phát, gần cửa ra vào dẫy ngoài là phòng của anh Phước (anh của Loan học lớp tôi). Sống ở lưu xá, sáng dậy ai cũng bận rộn (có lẽ không có đồng hồ reo, hoặc ai gọi nên gần giờ đi học mới dậy), thay phiên nhau lên nhà bàn lãnh bánh mì. Sau giờ tan học buổi trưa hay buổi chiều là các anh rủ nhau lên nhà bàn, mọi người cầm mâm xếp hàng chờ lãnh phần ăn, vừa ăn vừa nói chuyện trên lớp, tôi chỉ có nghe thôi chứ biết gì mà nói, nhớ lại thấy vui ghê. Còn chuyện này vui hơn nữa, đó là đêm nọ tôi đang ngủ ở giường tầng dưới, nửa đêm tôi thấy ướt ướt, giật mình dậy thấy nước ở tầng trên nhỏ giọt xuống, tôi xông dậy la lên: “dầm dầm” (không biết anh nào đó?). Chao ôi, các phòng bên cạnh cũng thức dậy, chọc quê om xòm (các phòng trong lưu xá cách nhau bức tường kín, riêng bức tường trong hành lang, phía trên cửa phòng có một khoảng trống, nên bên này nói gì bên kia nghe hết), làm hôm sau tôi bận dễ sợ vì phải lo giặt và phơi khô tất cả.
 
Trong trường khoảng 9 hay 9giờ30 tối thì cúp điện, cho nên đèn dầu là phổ thông nhất, hầu như mọi người đều có một cái, khi còn điện thì anh em ca hát, nói chuyện tán dóc, tắt điện mới lo học bài. Trong phòng có cái tủ vừa đựng quần áo, vừa làm bàn học khi hạ cánh cửa tủ xuống. Có người thích lên lớp học yên tĩnh hơn. Tôi cũng bắt chước theo các anh cầm đèn, cầm vở lên lớp, mỗi lớp vài người, ngồi xa xa, tôi thường lên dẫy lớp A, hầu như 3 dẫy A,B,C đều có ánh đèn dầu mỗi đêm. Tới mùa thi thì khỏi nói, đông người lên lớp nhưng mạnh ai nấy học, ít nói chuyện, mọi người hầu như tự học riêng của mình. Hôm nào học về khuya, đói bụng thì rủ nhau ra đằng cổng trường, phía bên kia đường mua bánh mì nóng hay về phòng nấu mì gói.  Ở lưu xá không có bếp, phải tìm mấy sợi kẽm lớn làm cái giàn đặt cao hơn cái bóng đèn dầu một tí, rồi đặt lon guigoz có ít nước lên đó, vừa ngồi coi bài, vừa chờ nước sôi, bỏ mì vào là có thể no bụng đi ngủ.
 
Sau này tôi hơi dạn một chút, có đêm tôi đi một mình, nói vậy chứ nhiều đêm tôi từ lớp học đi về, tay cầm vở học, tay cầm đèn đi qua hàng cây Sao trước khi đến cột cờ, gió lạnh thổi tắt đèn, lại thêm những con cú trên cây kêu lên, thì trời ơi tim tôi đập thình thịch, chân vội bước đi thật nhanh, mắt không dám nhìn hai bên, cố đi mau về tới cửa lưu xá mới hoàn hồn. Biết sợ như vậy nhưng vẫn cứ hay lên lớp ban đêm, hình như tôi đam mê cái yên tĩnh ở đây thì phải. Một hôm khi đến lớp trời chưa mưa, ngồi trong lớp chỉ có một mình tôi, tự dưng tôi nghe tiếng gì sặc sặc ở gần cửa lớp, ngoài trời đang mưa, tôi cầm đèn đến xem. Chao ôi, tôi nổi da gà, thấy một con rắn lớn dài đang bò vào sát tường gần tấm bảng, thế là tôi cuống lên trốn về chỗ ngồi, thu xếp đồ đạc, bước lên ghế luôn, nhảy ra cửa sổ dông một mạch về lưu xá. Sợ quá!
 
Nhập học được không lâu, tới giờ thực hành nông trại, thường là buổi chiều. Hôm ấy học sinh phải mang theo xà bất, Thầy (thật xin lỗi, tôi đã quên tên của Thầy hướng dẫn nông trại rồi) hướng dẫn cả lớp đến khu đất bên cạnh nhà Thầy Hiệu Trưởng (Thầy Nghiêm Xuân Thịnh, 1968, tôi còn nhớ Thầy lái xe Huê kỳ Chevrolet màu đen, bảng số EA.., mỗi lần Thầy lái xe quẹo qua cột cờ để về nhà là Thầy nghiêng nghiêng mái đầu, tôi thầm ước mơ sau này sẽ được như vậy). Phía sau khu đất là chuồng gà, Thầy chia cho mỗi người một luống đất để trồng cà rốt. Học lý thuyết ở lớp rồi, bây giờ là lúc thực hành trên đất, Thầy chọn ngày bắt đầu làm và ngày thu hoạch, nhưng sẽ chấm điểm theo từng giai đoạn thực hành. Hầu hết đều bắt đầu làm hôm đó và tiếp tục những ngày kế sau giờ học trên lớp.
 
Vài ngày sau đó, có lẽ chưa quen với việc đồng áng nên tôi thấy trong người thấm mệt, yếu dần, người cứ lừ đừ, tôi vẫn cố gắng đi học đều, nhưng không đủ sức để cuốc đất. Tôi không nói với ai cả và không biết uống thuốc gì mà cũng chẳng có thuốc gì để uống. Thấy yếu người quá, ăn uống vẫn ở nhà bàn, thèm ăn cháo mà không có, tôi sốt ruột quá làm sao hết bệnh để đi học, để làm nông trại? Chịu không  nổi nữa, hôm đó không có giờ học buổi chiều, tôi cố gắng đi lên bệnh viện Bảo Lộc (đằng sau Tòa Tỉnh) xin được khám bệnh, sau khi tôi khai bệnh trạng, họ cho tôi một mũi chích và thuốc uống, hôm sau tôi dần dần khỏe hẳn.
 
Tới ngày thu hoạch, Thầy đi chấm điểm, nhổ cà rốt lên, kết quả ai cũng tốt, ngon lành, củ cà rốt to và dài như bầy bán ngoài chợ, còn của tôi thì… chao ơi! chỉ bằng ngón tay út, mắc cở ghê đi. Không biết Thầy cho tôi mấy điểm, thật quá tệ.
 
Sau khi học lý thuyết ở lớp về cách vắt sữa bò bằng tay, một hôm trường có một con bò cái mới đẻ đang cho bê bú sữa. Vào buổi chiều hôm ấy, trời âm u, Thầy hướng dẫn cả lớp xuống chuồng bò để thực tập đến 4 giờ là xong. Thầy và tất cả ra về, tôi rủ Tâm (TQTâm) ở lại, tôi biết và đã chuẩn bị trước, nào là lon guigoz, nào là đường (như sữa Mẹ thường thì nhạt nhách), nào là bánh mì. Thế là sau khi xin phép, con bò được thực tập thêm  một chút nữa cho chắc ăn, tôi và Tâm thay phiên nhau, người này cầm lon người kia vắt, 4 vú bò ra sữa ào ào, nhanh lắm. Lúc gần đầy lon chúng tôi ra khỏi chuồng không quên cám ơn con bò. Tìm mấy que củi mấy cục đá, kê lon sữa lên nấu, vì đã học nếu không nấu có thể bị nhiễm trùng, nấu gần sôi, lớp màu vàng nổi lên trên như là bơ vậy, đem xuống hai thằng ngồi vừa quết ăn, vừa cười, gọi là vừa học vừa hành vừa hưởng. Ngoài trời cũng bắt đầu mưa, hai thằng cuốn gói về mau.
 
Ngày tháng trôi qua, thi xong đệ nhất lục cá nguyệt, trường cho nghỉ Tết, tôi vẫn còn nhỏ, không thể đi một mình về Sài Gòn được nên phải đi với chú Hoành, nhà ở đường Bạch Đằng-Gia Định. Ăn cơm xong, sợ tôi đi lạc, Bà Cô, Má của chú Hoành phải dẫn tôi về nhà Ba Má tôi ở Hòa Hưng, thật là mang ơn.
 
Phải nói từ khi được vào học ở Trường NLS Bảo Lộc tôi đã có cơ hội bắt đầu bước vào cuộc sống mới về sự học hành, sự sinh hoạt hằng ngày. Từ đó tôi trở nên mê học hơn ham chơi, là điều quan trọng nhất theo tôi cho cả thời gian sau này.
 
Quý Thầy Cô, các anh chị cùng các bạn đã dậy dỗ, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong những ngày ấy, ơn nghĩa tình này nói sao cho hết, sao có thể quên được. Vì vậy khi bước vào Hội của Trường như thể tôi được trở lại Trường để tiếp tục mọi sự như xưa. Thật vui mừng, thật dạt dào tình cảm làm quên hẳn đi những nỗi mệt nhọc, gian khổ trên ngàn dặm đường dài mà tôi đang đi qua.
 
Nguyễn Hữu Trí 
(MS 68-73)