Ngày 5 tháng 2 năm 2008 vừa qua tôi đã có dịp về thăm lại Trường Xưa, nơi mà cách đây 40 năm khi còn là một cậu bé 15 tuổi, tôi đã ăn, ngủ, học hành và phá phách suốt 2 năm trời trên đó. Thú thật, trong suốt chuyến đi, tôi cứ ngỡ như mình đang làm một cuộc hành trình, bước chầm chậm ngược về dĩ vãng.

Bắt đầu lên đường sau khi ăn xong bữa điểm tâm sáng ở quán cơm tấm Kiều Giang, nổi tiếng ở ngã ba Cát Lái. Chiếc xe thuê bao riêng của tôi từ từ lăn bánh vào ngã ba Dầu Giây, để rẽ vào quốc lộ 20. Mặc dù cái tên quốc lộ nghe có vẻ như là con đường huyết mạch của quốc gia, nhưng thực sự nó nhỏ bé và trông khốn khổ vô cùng. Được xây dựng bằng cách đổ đá rồi trải nhựa đường lên, cho nên nhìn bằng mặt thì cũng thấy phẳng phiu, nhưng khi xe chạy thì bị xóc, không được êm ả như những còn đường khác, vốn xây theo kỹ thuật “bê tông nhựa”.

Mặt đường đã hẹp, những người chạy xe trên đường lại không tuân theo bất cứ một thứ luật giao thông nào, cho nên phải nói là rất đáng sợ. Tốt nhất là chỉ nên nhìn sang hai bên đường mà ngắm cảnh. Không bao giờ nên nhìn thẳng về phiá truớc, bởi vì thỉnh thoảng lại thấy nguyên một cái đầu xe đò hoặc xe tải đang lao thẳng vào xe mình, và hai xe chỉ lách ở cái tích tắc cuối cùng. Hồi hộp đến vỡ tim mà chết.           

Qua khỏi ngã ba Dầu Giây khoảng 5 km, bên tay phải có một trạm dừng chân nghỉ ngơi (giống như các Rest Area ở bên Mỹ). Trạm nghỉ cũng lớn, đẹp, có bán cà phê, thức ăn nhanh, nước uống bổ dưỡng  hiệu “con bò húc” và có cả ổi xá lị được bơm loại thuốc gì đó của Trung Quốc, to gần bằng quả bưởi. Thấy hấp dẫn quá thì mua, chứ lên xe, không ai dám ăn! Cũng ghi nhận thêm một điều: các tấm bảng chỉ dẫn tại hai dẫy cầu tiêu đều được viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Chắc hẳn để nhắm vào các du khách người nước ngoài. Thế nhưng khi vào bên trong, các dẫy bồn tiểu thì dơ dáy, còn các nhà cầu đều đồng loạt không có giấy vệ sinh. Thay vào đó, mỗi phòng đều có một cái vòi nuớc bằng cao su. Chả hiểu có ông Tây bà Mỹ nào dám làm cái công việc vệ sinh đáng sợ như thế không?

 

Tới La Ngà, xe chạy trên chiếc cầu mới xây sau này. Còn cầu La Ngà quen thuộc ngày xưa đã bị phá bỏ đi. Cái vị trí cũ của nó nay đã ngập chìm trong làn nước của lòng hồ thuỷ điện Tri An.Xe qua Định Quán, những hòn đá to lớn chồng lên nhau một cách chênh vênh vẫn còn đó. Cái lô cốt gác của quân đội ngày xưa đặt trên một tảng đá to cũng vẫn còn đó. Tôi còn thấy cả một khẩu đại liên thò ra từ trong lô cốt. Không hiểu mục đích để làm gì trong bối cảnh cuộc chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt cách đây gần 33 năm rồi. Qua Phương Lâm, nơi ngày xưa các xe đò thường phải nằm ụ vì đường xình lầy, vì Việt Cộng đắp mô…nay xe chạy thông suốt, bon bon…Rừng cây Giá Tỵ ở hai bên đường vẫn còn đó, kéo dài hàng nhiều kilômet. Xe bắt đầu lên Đèo Chuối, đã cảm thấy khí lạnh của núi rừng xâm nhập vào các giác quan. Mặc dù nắng vẫn còn vàng, cái nắng quen thuộc của quê hương vào những ngày giáp Tết. Qua đèo Bảo Lộc dài khoảng 10 kilomét. Quang cảnh tuyệt đẹp hiện ra trước mắt. Bên là vách núi cheo leo, bên là hố sâu thăm thẳm. Đèo Bảo Lộc ở độ cao 800 mét so với mực nước biển, bầy ra trước mắt cảnh tưởng thật hùng vĩ, cứ như tranh vẽ. Tôi lục trong ký ức mình: hệ thống dẫn nước bằng ống tre dựa theo vách núi của người dân tộc không còn thấy nữa, biến mất hoàn toàn. Miếu Ba Cô được xây dựng quy mô, cùng với tượng đài Đức Mẹ An Bình, ở cách đó không xa, đã trở thành các điểm tham quan du lịch. Các xe to, xe nhỏ đậu dài dài hai bên đường càng làm tăng thêm vẻ bát nháo đầy nguy hiểm cho việc lưu thông trên đèo. Nhưng người tài xế của tôi hôm ấy lại là một tay lái xe cừ khôi. Anh ta đã vượt qua được mọi thử thách trên đường và khi anh ta nhe răng ra cười là lúc đó chiếc xe đã đậu ngay tại cổng chính của trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc ngày xưa. Nhìn vào cổng trường, lòng tôi bồi hồi.

Tôi đã viếng tượng Nữ Thần Tự Do ở New York. Tôi đã ngồi uống cà phê Du Monde ở khu Pháp kiều, New Orleans. Tôi đã đứng bên con sông duy nhất của đất nước Singapore. Nhưng chưa bao giờ lòng tôi lại dâng trào cảm xúc như khi tôi bước chân qua cổng để vào tận bên trong trường.

 

Người bảo vệ cũng dễ dãi. Ông ta đang chúi mũi vào bàn cờ tướng cuối năm và bảo tôi cứ tự nhiên vào tham quan.           

Trong trường vắng tanh vắng ngắt. Tôi không hề thấy bất cứ một bóng người nào khác, 29 Tết rồi còn gì? có lẽ mọi người đã về nhà vui Xuân. Đâu đâu cũng cửa đóng then cài, yên vắng và tĩnh mịch. Cảnh tưởng làm dễ chạnh lòng để nhớ tới một câu trong tập Kim Văn thời trung học, “Xác đấy mà hồn tận đâu đâu....” Tôi đi dọc con đường phiá tay mặt để tới văn phòng. Cây hoa sứ (?) trước văn phòng vẫn còn đó. Vẫn còn thấy loang thoáng bóng dáng của các học sinh xa nhà, cạn tiền túi, đang chạy ra chạy vào tìm ông Nhất để hy vọng có được một cái thư bảo đảm. Cột cờ thì biến mất, thay vào đó là một cột đèn nhiều bóng. Phần để chôn dưới chân cột cờ hình như vẫn giữ nguyên hình dáng cũ. Cứ như thể mới hôm qua Lương Tường Khánh, Đinh Công Ngọc, Đào Chính Lý vừa ngồi đây….còn nữa, còn nhiều khuôn mặt NLS đã gợi lại bóng dáng mình ở địa điểm trứ danh này mà tôi không thể kể ra hết được, dù có muốn. Tôi đi đến dẫy lớp học đệ Ngũ, đệ Tứ. Tôi nhìn qua khung kính cửa sổ để tìm bóng dáng tôi trong đó. Khác lạ hết rồi! Những cái bàn viết liền với ghế ngày xưa đã được thay bằng những chiếc bàn và băng ghế dài. Các bảng đen trên tường chưa chắc đã là những chiếc bảng ngày xưa. Nhưng không sao! Tôi vẫn thấy khuôn mặt nhân hậu của cô Vân mập dậy anh văn. Vẫn thấy dáng người gầy gầy của thầy Thảo dậy Thủy Lâm đứng trên bục giảng. Và dưới kia, tôi thấy tôi đang ngồi ngáng chân những học sinh ngoại trú, nhà ở chợ Tân Phát, Tân Bùi…một hành động mang lại nhiều hứa hẹn cho một cuộc đánh nhau tay đôi sẽ xẩy ra vào giờ ra chơi.

 

Từ dẫy lớp học tôi đi tới nhà ăn. Trong tầm mắt tôi, cái gọi là Xích Diệp Lộ ngày xưa nay chỉ còn lại lưa thưa, chỗ này vài bụi, chỗ kia vài bụi , buồn thảm.Nhà ăn vẫn y chang như hồi trước, quen thuộc và thân thiện. Tôi nhìn đồng hồ tay: giờ này đã quá giờ ăn trưa. Giờ này tất cả mọi người (chới với hay không chới với) đều đã no bụng, yên tâm học hành, chơi thể thao, tán gái hay rủ nhau đi uống café ghi sổ. Lưu xá D, nơi tôi ở năm đệ Tứ, trong nhỏ bé hẳn lại so với hình ảnh trong ký ức tôi. Các cửa sổ xưa kia bằng kính thì bây giờ đã được đóng bằng gỗ hay ván ép. Cây Điệp trước mặt lưu xá sau hơn bốn mươi năm lẽ ra nó phải trở thành cây đại thụ; nhưng mà không! Nó vẫn như hồi xưa thôi! thế mới lạ! chẳng lẽ thời gian không tác động gì được tới nó hay tại ký ức tôi đã nhạt nhoà đi, hư hỏng đi nhiều rồi? Tôi quay trở ra phía Đại Thính Đường để chụp vài tấm ảnh. Những cây muồng vàng trên Hoàng Hoa Lộ vào mùa này không hoa, không lá. Những thân cây giơ cánh khẳng khiu. Khoảng đất tràn đầy cỏ voi gần thư viện ngày đó, giờ nay đã được thay thế bằng những gốc trà trồng đều tăm tắp. Đó đây những kiến trúc mới lạ nằm rải rác, rất dễ nhận ra. Chúng được xây cất theo kiểu cách tùy tiện, hoàn toàn không phù hợp với tổng thể chung quanh.

Lòng vẫn còn bâng khuâng, tôi ra cổng lì xì cho ông bảo vệ ít tiền. Rồi thả bộ ra một tiệm trà ngồi nghỉ chân. Tiệm trà này nằm đối diện với hàng rào chính diện của trường. Cùng một dẫy với tiệm bida Mỹ Khanh va tiệm chụp hình của chị Kim Nguyên hồi xưa.

 

Tôi hỏi một người nhân viên ở tiệm trà rằng có biết tiệm bi da Mỹ Khanh ngày xưa không? Người bảo vệ nhìn cái nắng Tết đang chan hoà trên mặt đường quốc lộ 20: “cái này chắc Chú phải tìm những người gìa gìa để hỏi, chứ theo cháu biết các chủ tiệm ở ngoài mặt tiền này toàn là người từ ngoài Bắc vô không à, những người hồi xưa ở đây hoặc đã bỏ xứ đi, hoặc đã rút vào bên trong sâu hết rồi.”                                               

Tôi đảo mắt tìm những người dân địa phương già theo lời cố vấn của anh ta, nhưng không thấy ai, ngoại trừ một người trạc tuổi tôi, mặc quần xà lỏn, đang ngồi xổm dưới đất lim dim ngủ bên cạnh xe nước mía, sát ngay hàng rào trường. Thôi! tốt hơn hết là không nên phá vỡ giấc mộng cuối năm mà có thể ông ta đang ướm cho mình trong giấc ngủ chập chờn và khốn khổ kia.

 

Tối hôm đó tôi ngủ lại thành phố Đà Lạt. Một thành phố khác hẳn với tất cả các thành phố khác của Việt Nam ở hai điểm: thứ nhất thành phố Đà Lạt không hề có một ngọn đèn xanh đèn đỏ nào. Thứ hai, các nhà dân trong thành phố này, kể cả khách sạn, không có nơi nào có gắn hệ thống ….máy lạnh! 

Dương Phú Lộc

This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Raleigh