Nếu “tha hương ngộ cố tri” được xếp vào hàng thứ nhì trong “t đại hoan hỉ” của đời người, thì quả cú điện thoại của anh Nguyễn văn Quí đã mang lại cho tôi niềm vui khá lớn, sau gần 40 năm bặt tăm.
    Để nhớ chính xác cơ hội nào được quen biết anh thì chỉ mong Trời giúp tôi. Duy có điều còn nhớ khá rõ, trong tâm cảnh khi rời Bảo Lộc về Sàigòn, chốn quen mà lạ, lòng tôi luôn dậy sóng bởi mối tình si về chốn cũ. Nơi mà tôi có 3 năm sống yên bình với khung trời xanh rộng mở, bông hoa chực chờ rực nở theo mùa, bóng râm tươi mát phủ đầy và nhất là những bóng dáng kiều diễm, mượt mà. Bỏ lại tất cả để đối mặt với những nhiêu khê mới. Khung cảnh rộn rịp của đô thị, đi giữa lòng phố ngập những người nhưng lòng lúc nào cũng cảm thấy đơn lẻ.  Đầy  ấp  bóng dáng dập dìu thướt tha, nhưng hồn cứ quấn quanh, hiu quạnh, xót xa.
    Có lẽ qua Trần Văn Đạt, người bạn học trước khi lên Bảo Lộc, cũng  là bạn thân của Quí, tôi được biết anh. Thời ấy, trong tôi, đang vấn vương, giăng mắc của niềm nhớ về khung trời cũ; trộn lẫn với tâm cảnh ngổn ngang, lãng đãng của người sống “lộn chỗ” . Chẳng trách, để được anh nhìn tôi như một kẻ gàn gàn.
     Vừa quen, tôi đã mến anh ngay vì bản chất hiền hoà, quí bạn, nhất là giữa chúng tôi có cùng một số sở thích giống nhau: cà phê, sách vở, mê bạn, háo tranh cãi cho những chuyện trời ơi đất hỡi.
     Khi thân hơn, được mời về nhà, trong cảnh đơn sơ của một gia đình tần tảo nhưng tủ sách của anh được trưng bày trang trọng đầy ắp những sách. Hơi lạ, vốn dân học khoa học nhưng  anh chọn sách, toàn là những bộ sách  về học thuyết và tư tưởng  đồ sộ cổ kim cũng như những quyển tiểu thuyết tiêu biểu cho những nền văn học  lớn của nhân loại.
     Cùng xuất thân từ nhà nghèo, phải  tự lực trong việc học hành  lại đeo mang sở thích  khá tốn kém thời học trò, để tôi nghĩ, anh phải thật tận lực học hành, bỏ qua những trò vui thú khác của thời trẻ và  phải dành ra khá lớn trong số tiền kiếm được trong việc kèm trẻ để có thể mua khối lượng sách khá lớn như vậy.
     Cùng sở thích nên chúng tôi hay trao đổi sách mua được.  Mỗi lần gặp nhau, bất cứ chỗ nào, chúng tôi hay tranh luận những điều học lóm được qua mớ kiến thức tù mù từ những quyển sách mới vừa đọc.   
     Xa gia đình lên Blao ngay khi rất trẻ, quen sống với bè bạn, tâm tình hồn nhiên lớn lên như cỏ cây, quen suy nghĩ phóng túng, hơn nữa còn quá trẻ nên trong đối đãi tôi đã có phần nào không phải trong lúc tranh luận với anh, mong anh quên và thứ tha cho. 
     Những năm sau đó, dòng sống bận rộn hơn, những lần gặp anh thưa dần. Tôi an bề ở một tỉnh lẻ miền đông và được biết anh cũng cùng nghề, dạy ở một  trường nào đó. Và dòng sống kéo anh, tôi miệt mài trong cuộc chơi khác.
     Tôi không rõ lần chót gặp anh năm nào.  Nhưng sau biến động năm 75, dòng sống “ngọn cỏ gió đùa” đẩy đưa tôi trôi dạt từ khu rừng này đến đồng hoang khác. Xa hơn, đến vùng đất này, cách quê nhà một khoảng mù khơi.  Nghe đâu sau thời mở cửa, anh rất thành công trong thương trường và thương bạn, anh rộng rãi, chí tình giúp nhiều bạn bè kém may mắn hơn anh.
     Trong những lần thưa chuyện với Thầy Phan Bá Sáu, câu chuyện đong đưa về Trường NLSBL, được  nghe Thầy nhắc mấy lần đến anh Quí, vị giám học sau cùng của Trường, nhưng tuyệt nhiên tôi không biết đó là anh.
     Đúng như anh viết, chúng tôi có nhiều điều để nhắc nhớ. Những buổi nói chuyện viễn liên ở hai thành phố cách nhau 4-5 ngàn cây số làm sống lại những điều thật đáng nhớ chung. Một quãng đời cũ đã trôi xuôi và dòng sống vắng mặt mấy mươi năm dài được ôn lại. Câu chuyện về sách vở được tiếp tục nhưng trong phong thái khác hơn. 
     Riêng chuyện anh nhắc tôi còn giữ của anh một vài quyển sách. Nếu đúng, thì tôi nghĩ nó đa ra tro than trong chánh sách thu đốt từ sự dốt nát, thù hằn nhỏ nhen,  nhằm cố xóa đi nền văn học Miền Nam của những người vừa từ rừng về phố thị. Tôi sẽ không ngạc nhiên, một người vẫn còn đam mê sách vở như anh; một hôm chợt lùng tìm sách cũ và nhận ra sách có chữ ký của mình, như anh vẫn có thói quen làm, trên một hàng sách chợ trời.  Vì mấy ông chủ mới của đất nước dù miệng chửi rủa, lên án nhưng rất thích, đã bày trò cướp cạn về đọc và kiếm chác qua việc lòn chui bán chợ trời.
     Về việc còn giữ của anh vài quyển sách, biết anh nhắc trong bông đùa nhưng dù gì nợ vẫn là nợ.  Bằng cách nào để trang trải  món nợ cũ!? Mong lời nói phải nầy để được anh cho khất lần, hay để nghị cho một cách nào dễ trả.  
     Nhận được bài viết của anh khi anh sửa soạn hành trang để về lại quê nhà,  xin được trân trọng giới thiệu với độc giả Trang Nhà về anh, cùng lời tâm tình của anh được viết từ cảm xúc chân thành, ghi lại dòng sống cũ, về đất trời Bảo Lộc, về ngôi trường có một không hai, nhất là ân tình riêng với những người do ơn phước được bắt gặp, gần gũi trong đời… (vtd)

 

NHỮNG THÁNG NGÀY KHÓ QUÊN

 

Ngày đầu năm 01/01/2009 vừa qua, ngày họp mặt của các anh chị em cựu học sinh và thầy cô giáo Trường NLS Bảo Lộc tại Sàigòn. Mỗi năm đến dự tôi được dịp gặp lại bạn bè đồng nghiệp, các em học sinh cũ, vui quá nhưng cũng không tránh được sự bùi ngùi đôi chút bởi số người dự cứ vơi dần đi. Biết làm sao hơn, có đi phải có về.  

Riêng năm nay, đặc biệt hơn có bản kỷ yếu trên tay, tôi lần giở từng trang ghi tên các bạn có liên hệ tới trường, quen có, lạ có. Tôi rất ngạc nhiên khi đọc đến tên của một cựu học sinh Trường: Vương Thế Đức.  Một người bạn của tôi thời sinh viên hơn bốn mươi năm trước cũng có tên họ như vậy. Trùng tên chăng? Lại thêm một chi tiết khác, hiện đang sống tại Canada!  

 

 Dù mất liên lạc đã lâu nhưng qua một số bạn bè chung, tôi biết Vương Thế Đức, bạn tôi, cùng gia đình đã yên bề ở Canada.  

Bán tín bán nghi, sau đó, tôi điện thoại kiểm chứng với các bạn quen chung ở Bình Dương, thì đích thị hai người là một. Lại được biết thêm, hiện Đức đang phụ giúp Trang Nhà của anh em NLS Bảo Lộc tại hải ngoại.

Hồi đó, bốn mươi năm hơn, tôi có vài bạn bè cùng học Đại học Khoa Học, vốn dân Bình Dương, như Trần Văn Đạt, Nguyễn Văn Gìn và Nguyễn Thị Tuyết (riêng Tuyết học Văn khoa ) và qua các bạn này tôi quen với Đức. Chúng tôi làm bạn với nhau thời sinh viên, thích và quí nhau vì có vài điểm chung. Tình bạn của chúng tôi, bạn  của bạn nên tôi cũng không tìm hiểu nhiều về Đức, chỉ biết Đức lúc ấy học văn khoa và hoàn toàn mù tịt về việc Đức xuất thân từ trường NLS Bảo Lộc. Tôi còn nhớ  Đức có tính cách hơi gàn gàn, hay nói đùa và hay châm biếm, đặc biệt anh có kiến thức về xã hội và văn học hơn hẳn chúng tôi, có thể anh từng trải và ngốn sách hơi nhiều.  Tôi luôn cảnh giác mỗi lần gặp và tranh luận với anh nhưng thích thú vẫn nhiều hơn. Câu chuyện của chúng tôi thường là sách vở và hay trao đổi sách cho nhau đọc.  Hình như anh còn giữ của tôi một ít sách.

Mấy năm trước đây, tôi thường qua Mỹ một, hai lần trong năm để thăm gia đình nhưng không biết số điện thoại của Đức và các bạn bè NLS Bảo Lộc để liên lạc. Nay được biết Đức vốn là dân NLS Bảo Lộc, trước khi chuẩn bị cho chuyến qua Mỹ lần này tôi tìm được số điện thoại của Đức. Khi đến Mỹ, tôi liên lạc và được tiếp xúc với người bạn “không hiền” thủa xa xưa. Ôi mừng quá, đúng là “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”. Và qua Đức, tôi liên lạc được với quý Thầy Phan Bá Sáu, Nguyễn Văn Khuy, Từ Văn Trường, Nguyễn Văn Chút, Cô Nguyễn Thị Thành, Cô Nguyễn Thị Nghĩa.

Vùng con cái tôi ở thuộc miền cực tây của nước Mỹ còn Đức thì ở vùng cận đông của Canada, thời gian lưu lại đất Mỹ không được lâu nên việc tôi và Đức gặp nhau dù rất muốn không thực hiện được. Chúng tôi hàn huyên qua điện thoại nhiều lần, mỗi lần vài giờ liền, nhiều điều cần nói quá. Kỷ niệm xưa, quãng đời cũ vắng mặt được ôn lại, chắc nói hoài không hết. Tôi hẹn với Đức lần qua Mỹ kỳ tới tôi sẽ ráng thu xếp sang Canada để gặp Đức.

Khi khám phá ra tôi là cựu giáo chức cũ của Trường NLS Bảo Lộc, anh Đức khuyến khích tôi viết ít dòng trên trang nhà. Tôi hẹn sẽ trả lời sau vài ngày, để xem viết cái gì? Hồi nào tới giờ tôi có viết lách gì đâu.  Tuy nhiên, ngoái đầu nhìn lại hơn sáu mươi năm cuộc đời đã đi qua, hai năm dạy ở Bảo Lộc thật ngắn ngủi nhưng đã để lại ở tôi một số điều và đây cũng là cơ hội để tôi ghi lại quãng đời cũ đáng nhớ của mình.Hồi tưởng một cách lắng đọng, chân thật, không tô hồng cường điệu, cuộc đời tôi qua hai giai đoạn lịch sử tại VN, lên bờ xuống ruộng cũng nhiều nhưng có lẽ hai năm ở Bảo Lộc tôi sung sướng nhất, hạnh phúc nhất.

Lúc đó sao tôi sống hồn nhiên vô tư lự, thoải mái quá. Có thể do khí hậu tốt, do con người tốt tạo ra môi trường sống tốt chăng?  Tôi còn mắc nợ ân tình với mảnh đất này, với quý thầy cô, bạn bè và học trò ở đây. Tôi phải nói ra những lời tri ân đất và người đã từng sống qua đây.

Bây giờ đã tháng 3 tại Spokane, thủ phủ hành chánh của tiểu bang Washington, vẫn còn tuyết. Thức dậy, sáng ra đã thấy tuyết trắng xóa đầy khắp mọi nơi. Chỉ qua một đêm đất trời đã thay đổi hoàn toàn huống chi con người sau hơn sáu mươi năm. Nhưng dù có thay đổi, xấu tốt cũng đã đi qua, chúng ta hãy gìn giữ những kỷ niệm đẹp. Hãy lãng quên cái xấu, cái không đáng nhớ. Riêng tôi đã xài gần hết quỹ thời gian của mình rồi nên cố gắng tập xua tan những hoài niệm đau thương và cay đắng bằng con đường vị tha và lãng quên để hy vọng Trời Phật thương và cho sống thêm vài năm.

Buổi sáng giá rét ở đây thật tĩnh lặng, trong suy tư lặng lẽ tôi đã nghe tiếng gọi từ kiếp sau vọng tới và các kỷ niệm về Trường NLS Bảo Lộc đang cuồn cuộn trôi về.Năm 1971, tôi tốt nghiệp cử nhân giáo khoa Lý Hóa Trường Đại học Khoa học Saìgòn. Tôi xin Nha Trung Học làm giáo sư dạy giờ tại Trường Trung Học Hiếu Thiện (Quận Gò Dầu, Tây Ninh). Giáo sư dạy giờ, dạy giờ nào được trả lương giờ đó, lương cũng sống rủng rỉnh, tuần dạy trong 2 ngày 20 tiết nhưng so với giáo sư chánh ngạch (tốt nghiệp Đại học Sư phạm) chúng tôi có phần thiệt thòi hơn vì không có lương khi nghỉ hè, nghỉ tết,..v.v… và thông thường 3, 4 tháng mới có lương. Ở trường này, tôi dạy toán cho các lớp Đệ nhị cấp. Chúng tôi hay tự chế giễu mình là loại giáo sư “No dồn đói góp”.

Năm 1972, được biết Học Viện Quốc Gia Nông nghiệp (Đại học Nông nghiệp) mở khóa 3 Sư phạm Nông nghiệp Đệ Nhị Cấp, học một năm rưỡi do Thầy Đặng Quang Điện làm Trưởng Khoa. Các anh chị em tốt nghiệp các trường Đại Học Khoa Học, Kỹ sư Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ và Kỹ sư Học viện Nông nghiệp có thể thi vào, số lượng tuyển khoảng 30 người. Ra trường với danh xưng giáo sư đệ nhị cấp chánh ngạch, được hưởng chỉ số lương 510. Tôi đã trúng tuyển, vậy là cuộc đời lên hương nhưng cũng chưa hết vất vã.

Năm đó gia cảnh tôi còn nhiều khó khăn, cha vừa nghỉ chạy xích lô do sức yếu quá rồi, mẹ tôi bán rau cải đầu chợ Bàn Cờ nhì nhằng, bữa được, bữa không, sau lưng tôi còn bầy em sáu đứa, làm sao tôi yên tâm miệt mài học hành. Lấy hết can đảm trình bày với Thầy Trưởng Khoa, Thầy Điện, ông nhíu mày khó nghĩ nhưng rồi Thầy cũng đồng ý cho tôi nghỉ một tuần 2 ngày lên Tây Ninh dạy học để kiếm thêm tiền ăn học và giúp gia đình; dĩ nhiên, tôi phải hoàn thành đủ bài vở và thi cử. Thầy nói, “Anh là trường hợp đặc biệt đó nghen.”  Sau đó, tôi còn biết thêm anh Trương Thân cũng được đặc ân như tôi. Với lòng nhân từ,Thầy mở lối thoát cho những đứa học trò nghèo như chúng tôi.

Tôi xin phép tản mạn một chút về Thầy Đặng Quang Điện. Trong cuộc đời đi học, tôi đã được học với rất nhiều thầy cô nhưng hai người thầy đã để lại nhiều điều đáng nhớ nhất trong lòng tôi đó là Giáo sư Bác sĩ Đặng Quang Điện, Trưởng Khoa Sư phạm Nông Nghiệp Đệ Nhị Cấp, thuộc Học Viện Quốc Gia Nông nghiệp và người thứ hai là Giáo sư Tiến sĩ hóa học Lê Văn Thới, Trưởng Khoa Hóa Hữu Cơ Đại học Khoa Học Sàigòn. Hai Thầy giống nhau một cách kỳ lạ: kiến thức chuyên môn rất uyên bác, mẫu mực trong giảng dạy, rất khó tính và nghiêm khắc, nhưng hết lòng yêu thương học trò. Hình dáng hai Thầy cũng từa tựa nhau. Bây giờ hai Thầy đã ra người thiên cổ. Mượn những dòng nầy là nén hương từ lòng, con xin ngưỡng vọng bái nhớ đến hai Thầy.

Hết mùa hè năm 1973, tốt nghiệp ra trường tôi chọn nhiệm sở Trường NLS Bảo Lộc. Tôi chọn Trường này vì mến cảnh, mến người, cùng về đây với tôi còn có Anh Võ Xuân Tú và Cô Nguyễn Thị Hồng Nhung. Sau khi trình diện Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Khuy, tôi và Tú được bố trí ở tạm nhà trắng (Nhà khách), Cô  Nhung ở nhà Cô Thế, bước đầu chúng tôi có thể ăn cơm ở câu lạc bộ Trường. Được Thầy Khuy lo lắng chu đáo chỗ ăn ở, nhưng chúng tôi cũng hơi e dè, cảm giác chúng tôi là Thầy hơi nghiêm. Gặp Thầy Giám học Phan Bá Sáu xin xếp giờ dạy. Thầy ân cần mừng rỡ cho biết, “Các anh chị về đây tôi mừng quá, gánh vác phụ với chúng tôi, bộ môn Toán Lý Hóa thiếu thầy nhiều quá. Các anh chị nghỉ vài hôm làm quen với Trường rồi tôi xếp giờ dạy cho.”  Thái độ của Thầy làm chúng tôi nhẹ cả người, vừa ân cần bao dung của người anh đi trước nhưng không mang tính kẻ cả.

Vài tháng sau, chúng tôi đón thêm “ông tây cột đèn” Trần Ngọc Tản, vợ chồng Yamaha (Già mà ham vui) Chút, Nghĩa từ các trường NLS các nơi chuyển về.  Tại trường, nhóm chúng tôi có thêm anh Nguyễn Thế Bang, cô Nguyễn Thị Thành. Chúng tôi chia nhau đọc sách và nói lại các cảm xúc của mình khi đọc tác phẩm cho các bạn tham khảo. Nhóm có anh Bang đàn hay hát giỏi; anh Tú thuộc rất nhiều thơ khả năng thưởng thức cao; anh Tảng tay đập bóng chuyền nổi tiếng ở Sài Gòn và số còn lại chúng tôi hùn nhau tiếng cười. Những đêm trăng, chúng tôi kéo nhau đi dạo trong sân trường, ôi sao đẹp quá! Biết bao giờ lại có được những đêm trăng đẹp như vậy.

Trong trường các thầy giáo thỉnh thoảng cũng chia phe đá banh ở sân banh của trường, thầy Sáu luôn giữ vai thủ môn. Anh em chúng tôi gọi lén Thầy là “hũ gạo”, nếu đá phe Thầy phải lo bảo vệ “hũ gạo“ cho chắc còn đá phe nghịch cứ rót banh vào khung gổ thì mặc sức hốt gạo, đã thế Thủ môn Phan Bá Sáu lại bắt bóng rất ư là… nghệ sĩ, chấp đội bạn, Thầy thường bắt bóng một tay, bữa đó nếu tôi may mắn đứng trong đội hình của Thầy Sáu chắc chắn sẽ được đội bạn chia cho vài trứng vịt đủ nấu nồi thịt kho tàu. Các huấn luyện viên Tản, Giang hướng dẫn chúng tôi đá theo chiến thuật trải chiếu, có nghĩa là chỉ đá quanh quẩn trong phạm vi như chiếc chiếu, nếu ham banh quá coi chừng …mệt  xỉu. Tuy nhiên đôi lúc hăng tiết canh vịt chúng tôi quên lời dặn của huấn luyện viên chạy tuốt qua khung thành đội bạn và… nằm vạ tại chỗ.

Những ngày có trận đấu của các thầy giáo, khán giả đến xem đông như các đội mạnh của VN hiện đang đá trong nước. Ngoài sân khán giả là các thầy cô giáo không tham gia đá bóng, nhân viên trường và học sinh ôm bụng cười nghiêng ngã, trong sân các cầu thủ cũng thế. Kết quả cả hai đội đều thắng, ban tổ chức trận đấu tặng cho mỗi cầu thủ một trận cười sảng khoái mấy ngày sau vẫn còn thấy khoái. Ngày nay, có dịp tôi đi xem tấu hài trong nước, các diễn viên diễu trên sân khấu tôi đưa tay lên nách cù lét mà cười còn không nổi. Ước gì bây giờ tôi lại có những trận cười như thủa ấy dù giá vé có gấp vài chục lần giá vé xem tấu hài hiện nay cũng được, vì “ một trận cười bằng mười thang thuốc bổ “.

Các cầu thủ thầy giáo NLS Bảo Lộc lúc đó có: Thầy Sáu, Trường, Qúi, Giang, Tho, Tản, Luân, Lai Minh, Ngôn, Kiếm, Quang, Hy, Kính, Hùng “đô”, Minh “híp”, Hanh, Kiệm, Lãng, Chút, Trụ, Vũ… và nhiều thầy khác mà tôi không nhớ hết. Hàm răng trên của tôi nay đã mất 6 cái mà cái đầu tiên do Trần Thanh Giang đã thay Nha sĩ gỡ dùm trong một trận bóng đá quyết liệt đổ máu… răng.

Phía xa xa những rặng núi chung quanh trường là chiến tranh, bom đạn nhưng ở đây chúng tôi sống thật bình yên, hạnh phúc. Các Thầy cô giáo quý trọng, thương yêu nhau, học trò lễ phép kính trọng thầy cô, các em phần lớn xa nhà sống nội trú. Riêng tôi, với số lương 32000 đồng, ăn tiêu hào phóng hết khoảng chừng 12000 đồng còn  20000 đồng gởi về phụ giúp cha mẹ là điều khá an lòng.

Vài tháng sau ở Trường có sự thay đổi ban giám hiệu. Thầy Khuy, Hiệu Trưởng, chuyển về Nha học vụ NLS làm chuyên viên. Thầy Nguyễn Văn Hanh, nguyên Tổng Giám Canh, lên thay thế.  Thầy Phan Bá Sáu xin rời chức vụ Giám Học chỉ chuyên giảng dạy thuần túy. Đối với nhóm trẻ chúng tôi lúc đó, việc Thầy Khuy chuyển về Nha là hợp lý vì Thầy lên chức cũng như  gia đình của Thầy nhà ở Sàigòn, còn Thầy Sáu tự nguyện xin xuống chức chỉ xin làm Thầy giáo bình thường, với chúng tôi,  “hiện tượng” này có vẻ hơi là lạ.

Ở tuổi hơn tứ tuần, chức Giám học không có gì ghê gớm, nhưng lúc đó với bọn trẻ chúng tôi quan trọng lắm: Giám học, nhân vật số 2 trong trường. Dĩ nhiên có chức sẽ được đối xử trân trọng hơn, có thêm phụ cấp chức vụ và các quyền lợi về nhà cửa, xe cộ, xăng nhớt…v.v... chắc chắn mọi thứ sẽ khá hơn giáo sư bình thường. Đây là sự kiện lạ với tôi lúc đó và kể cả bây giờ.

Dạo ấy, chúng tôi đã khá thân với Thầy Sáu nên tôi mạnh dạn hỏi thẳng Thầy: “Tụi em mến Thầy lắm, sao Thầy không tiếp tục làm Giám học?” và được Thầy trả lời nhẹ tênh: “Tôi làm lâu quá rồi, các anh còn trẻ phải để các anh tiến lên chứ” Cho đến bây giờ, tôi rất ít được nghe câu nói như vậy từ người khác. Sau sự kiện đó, ở trường có vài rắc rối nhỏ và tôi được bổ nhiệm giữ chức Giám học. Thực sự tôi chưa có sự chuẩn bị để nhận chức Giám học, đây là bất ngờ lớn với tôi. Thầy Sáu bảo tôi hãy yên tâm, có gì khó cứ hỏi Thầy chỉ cho. Thầy Mai Bách Huyên, nhiều năm làm phụ tá Giám học, khuyến khích tôi: “Thầy cứ làm đi, không có gì khó khăn đâu, mọi chuyện đâu sẽ vào đấy, chúng tôi cùng làm với Thầy đây mà”.

Quả vậy, sự giúp đỡ cho đàn em của Thầy Sáu và Thầy Huyên rất tận tình và không gì quí và đẹp hơn.

Sự kiện 30 tháng 4 năm 75 đã kết thúc duyên của tôi với Trường NLS Bảo Lộc. 

Ngày mai, tôi rời đất Mỹ về Việt Nam. Độ rày thành phố Sàigòn chỗ nào cũng có rào chắn “lô cốt” để làm đường, bụi bặm đầy trời, tiếng còi xe như xé màng nhĩ. Từ nhà ra đường ở đâu cũng kẹt xe, xe kẹt từ sáng đến tối, luôn hối hả lo toan cuộc sống, không  biết có chỗ nào tĩnh lặng như ở đây để hoài niệm về cuộc đời, về bạn bè, về miền đất Blao ấm áp tình người.  Hai năm dạy học tại Trường NLS Bảo Lộc, tôi mới viết ra một phần nhỏ kỷ niệm, trong tôi ký ức vẫn còn đầy ắp yêu thương, về nỗi nhớ bè bạn, học trò, về ngôi  trường xinh xắn. Mong rằng được một lần gặp lại trước lúc ... chia tay.

NGUYỄN VĂN QUÍ

(Cuối đông, đầu xuân 2009)