alt
 
Bài thơ Nắng Mới của Lưu Trọng Lư - Hoàng Oanh ngâm
 
Một thuở nào xa lắm ở quê nhà. Mỗi lần nhìn nắng xế nghiêng thềm là lòng tôi bỗng chùng xuống như có nỗi buồn vu vơ... tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn... Ngồi ở trước thềm nhìn qua bên kia Đình Làng Hội, vài cánh chim xoãi cánh vút lên bầu trời cuối thu ẩm đục. Màu lá vườn cây đã đổi vàng tả tơi bay vèo trong gió. Tiếng hát ru con của Mẹ u buồn như những giọt mưa ngâu rơi trên những tàu lá chuối:

...Mình về ta chẳng cho về
Ta nắm lấy áo ta đề câu thơ
Câu thơ ba chữ rành rành
Chữ trung chữ hiếu chữ tình là ba
Chữ trung thì để thờ cha
Chữ hiếu thờ mẹ đôi ta chữ tình...
... Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp mật như đường mía lau...


Cuộc chiến đã mang anh em tôi ra ngoài vĩ tuyến, xa lìa ngôi nhà thân yêu, xa lìa tiếng hát mẹ ngọt ngào trìu mến như những chiếc nôi đời êm ả.

Cho mãi đến khi Mẹ tôi tưởng chừng như những lời cầu nguyện đạt thành, hòa bình trở về trên khắp quê hương. Nụ cười chưa tan trên môi thì nước mắt đã chảy dài trên đôi má nhăn nheo tội nghiệp, vì ba anh em chúng tôi đã bị đưa đi cải tạo trên những miền rừng thiêng nước độc của tỉnh Quảng Nam. Và để rồi khi ra khỏi tù các đứa con bà lại vượt thoát ra hải ngoại.

Gần như suốt cuộc đời Mẹ tôi tần tảo nuôi con và khổ đau vì chia cách triền miên.

Bây giờ ở Monterey Park, buổi chiều, nắng hanh vàng trên hàng cây phong, chợt nhớ đến Mẹ, chợt nhớ đến những hình ảnh đầy trìu mến cất dấu từ nhiều năm trong tâm tưởng:

... Mỗi lần nắng mới hắt bên sông
Xao xác gà trưa gáy não nùng
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng
Chập chờn sống lại những ngày không
Tôi nhớ Mẹ tôi, thuở thiếu thời
Lúc Người còn sống tôi lên mười
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội
Áo đỏ Người đưa trước giậu phơi
Hình dáng Mẹ tôi chửa xóa mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè, trước giậu thưa.

(Nắng Mới)

Bài thơ Nắng Mới của Lưu Trọng Lư đã vượt thoát ra ngoài hữu hạn của thời gian. Những xúc động tột cùng, thăng hóa nỗi nhớ về Mẹ đã như một chất men rượu cất lâu ngày trong tâm hồn đứa con đang ở miền viễn biệt. Bài thơ đã tạo cho Lưu Trọng Lư một chỗ đứng trang trọng trên thi đàn Thơ Mới mà Lưu Trọng Lư là một trong những thi sĩ chủ xướng phong trào này từ năm 1932. Vì trong mỗi đời sống ấu thơ của chúng ta không ai mà không nhìn thấy hình ảnh trìu mến của Mẹ hiền hòa với nụ cười đen nhánh sau tay áo...

...Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội
Áo đỏ Người đưa trước giậu phơi...


Mẹ tôi bây giờ ở quê hương không biết có còn đem phơi những chiếc áo bên hàng giậu thưa khi trời trở gió, nắng hắt hiu trên cành soan... khi mùa thu đang chuyển mình. Ở đây không có Mẹ, mỗi năm không còn nhìn thấy ...nắng mới reo ngoài nội... Áo đỏ Người đưa trước giậu phơi... mà chỉ thấy hàng phong thay lá... màu vàng mênh mông của mùa thu nhung nhớ đang bắt đầu tàn phai... để chuẩn bị lễ Tạ Ơn và Mùa Giáng Sinh trở về...

Đã bao nhiêu năm cuộc đời thăng trầm trôi giạt, tôi vẫn không quên bài thơ ca tụng Mẹ dễ thương này. Bài thơ hay vì chất chứa hồn thi nhân chân thật, hồn nhiên, vẽ nên nguyên thực hình ảnh đôn hậu hiền hòa của Mẹ. Có nhiều người bảo: “Trong tất cả kỳ quan của nhân loại, không có kỳ quan nào vĩ đại bằng trái tim Mẹ”. Nhưng thế giới Tây Phương khoa học, văn minh tiến bộ này có nhiều bà mẹ đành tâm tự mình phá hủy cái thần tượng vĩ đại của người Mẹ, chạy đuổi theo những viên gạch hoa cương đang đổ nát dưới lâu đài ảo hóa.

Trong bài viết về những kỷ niệm một thời với Lưu Trọng Lư, nhà giáo, nhà văn Vũ Ký có đoạn nói về Lưu Trọng Lư: “Chúng tôi quen nhau từ thời cùng học ở Huế, Thanh Tịnh đã giới thiệu Lưu Trọng Lưu với tôi... giữa chúng tôi vẫn quý mến nhau qua tình văn nghệ, thường trao đổi với nhau những câu chuyện sáng tác và đường lối sáng tạo thơ mới rất là tương đắc... Chiến tranh ý thức hệ đã xô giạt chúng tôi về những phía hận thù... Gần đây trong một chuyến về thăm quê hương, tình cờ chúng tôi gặp nhau ở Saigon, và cùng nhau rủ đi cùng một chuyến xe về Mỹ Tho thăm bà con... Trên suốt đoạn đường từ Saigon đến Mỹ Tho, tôi đã kể cho Lưu Trọng Lư nghe lại những giai đoạn sinh hoạt văn nghệ đầy sinh động của miền Nam, và dĩ nhiên tôi đã đề cập đến hàng loạt những bài thơ một thời của Lưu Trọng Lư được đa số người yêu mến văn chương qua nhiều thế hệ mến mộ nồng nhiệt. Đại khái, những bài Nắng Mới, Một Mùa Đông, Thơ Sầu Rụng, Tiếng Thu... Cuối cùng, tôi có nhắc đến giai đoạn nhầm lẫn của những con đường ngược chiều với tình tự quê hương dân tộc... Để rồi bây giờ anh chẳng còn gì trong đôi tay gầy guộc run rẩy của anh... Suốt đoạn đường Lưu Trọng Lư không nói, chỉ yên lặng lắng nghe và ra chiều suy nghĩ... Cho đến mãi khi xe dừng trạm đến Mỹ Tho... Chúng tôi cũng xuống xe, một vài giây phút trước khi chia tay, Lưu Trọng Lưu bắt tay tôi thật chặt, thật lâu và nói khẽ: Những điều anh vừa nói làm cho tôi vô cùng cảm động. Trong bao nhiêu năm qua, không một ai nói với tôi những điều đó. Tôi tưởng chừng đã nằm sâu trong huyệt mộ và anh đã gõ trên tấm mộ bia nhắc cho tôi biết tôi vẫn còn sống nhưng linh hồn tôi đã chết từ lâu. Những bài thơ một thời của tôi trước kia mới là những hơi thở đích thực của tôi đang sống mãi qua thời gian. Cám ơn anh là người đầu tiên nói thật. Tôi quý anh và tôi quý những người nói thật...”.

Lưu Trọng Lư đã không còn rong chơi trong cõi nhân thế đầy nghiệt ngã dối gian đó nữa. Ông đã về miền an nghỉ vĩnh cửu ngày 10-8-1991 tại Hà Nội. Tôi muốn viết về những bài thơ của ông. Những bài thơ một thời giao động tình yêu, như những đóa hoa phù dung e ấp trong nắng mới. Thơ Lưu Trọng Lư đánh dấu của một thời điểm nhọc nhằn như hạt lúa trong lòng đất, để hẹn đến những chùm lúa vàng chĩu hạt ngả nghiêng trong gió.

Ở cái thời giao điểm giữa mới và cũ, giữa hương khói Đường Thi và những điệu luân vũ của Tây Phương. Có thể vừa đọc thơ của Baudelaire, vừa ngâm nga những tuyệt tác của Vương Bột:

...Trường Giang bi dĩ trệ
Vạn lý niệm tương duy
Huống phục cao phong vãn
Sơn sơn hoàng diệp phi

(Tự Quy)

Trường Giang động hồn sầu chất ngất
Nghìn trùng xa da diết nhớ quê
Gió chiều lên mây càng u ám
Rừng núi bay vàng lá não nề
Sông dài sầu động hồn ta
Dặm ngàn thương nhớ quê nhà dấu yêu
Lại thêm gió thảm thê chiều
Vàng bay mấy cõi đìu hiu núi rừng.

(Nghĩ Về Cố Hương - Ái Cầm chuyển dịch)

Biên giới giữa mới và cũ đang là nghịch lý trong tâm hồn những người sáng tạo lúc bấy giờ.

Trong thơ Lưu Trọng Lư cố gắng vượt tới những mới mẻ, trong những vần điệu đan cử, nét vẽ hoang sơ tiêu điều buồn bã như khi nghe tiếng gà vọng từ thôn xóm:

Núi xa, nhà vắng, mưa mau
Mênh mông cồn cát, trắng phau ngô dừa
Trong thôn văng vẳng gà trưa
Lắng nghe đúng ngọ chuông chùa... nện không
(Tiếng Thu)

Ở một không gian khác, trăng sáng rọi xuyên qua cửa liếp an bình. Người em gái đang xõa tóc ngang vai lặng lẽ ngồi dệt lụa. Tiếng quay tơ đều đặn như một âm điệu buồn bã, làm cho anh chàng thi sĩ xúc động ngẩn ngơ, đã du hồn Lưu Trọng Lư vào cõi mộng mơ diễm tuyệt:

...Vừng trăng từ độ lên ngôi
Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ...
...Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay
Mùi hương hàng xóm bay đầy mái đông
Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng
Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh...

(Thơ Sầu Rụng)

Thơ Lưu Trọng Lư nồng nàn tình ái không thua kém Xuân Diệu, có nhiều bài Lưu Trọng Lư đã thực sự tạo cho ông một thế giới độc đáo riêng rẽ. Thế giới của những chiếc lá vàng rơi khẽ báo mùa thu đã tới với thế gian. Ở xa ngoài nghìn dặm quê hương vẫn thấy được màu vàng chuyển lá trên hàng cây phong trong công viên hay trên những lối đưa em vào thư viện. Thật mộng mơ và tình tứ. Những lúc vũ trụ chỉ còn hai ta là những lúc thơ của Lưu Trọng Lư lại về trong trí tưởng:

...Chim chi gọi mãi bên cầu
Phải chòm sao rụng trước lầu hở em?
Lắng nghe trăng giãi bên thềm
Lắng nghe trăng giãi bên thềm... ái ân...
...Em không nghe rừng thu?
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?

(Tiếng Thu)

Ông Vũ Ngọc Phan trong Nhà Văn Hiện Đại cho rằng bài Tiếng Thu ảnh hưởng nặng nề thi phẩm Thu Thanh của Âu Dương Tu, Trung Hoa. Còn ông Đặng Tiến thì cho rằng bài Tiếng Thu có nhiều âm hưởng của những nhà thơ Pháp như Verlaine hay Baudelaire. Nhưng theo thiển ý của tôi thì hình ảnh con nai vàng đâu có gì xa lạ với núi rừng Việt Nam. Và sự rung động trong Tiếng Thu rõ ràng là rung động của tâm hồn Đông Phương và bức tranh Tiếng Thu đúng là bức tranh thủy mạc thuần túy nét đẹp của người cô phụ trông ngóng người chinh phu?

...Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?...


Qua hình ảnh những tình yêu lãng mạn khác, Lưu Trọng Lư quả thật là nhà thơ tiên phong của phong trào Thơ Mới, táo bạo nhưng tình tứ đằm thắm của thời kỳ 1935-1942. Thời kỳ mà Vũ Ngọc Phan gọi Lưu Trọng Lư “Chúng ta có thể tóm tắt tất cả những ý trong thơ của Lưu Trọng Lư vào hai chữ Tình và Mộng” (Đặng Tiến ghi lại trong bài viết Đóa Mộng Đầu).

...Đôi mắt em lặng buồn
Nhìn thôi mà chẳng nói
Tình đôi ta vời vợi
Có nói cũng không cùng...
Hãy xếp lại muôn ngàn ân ái
Đừng trách nhau, đừng ái ngại nhau
Thuyền yêu không ghé bến sầu
Như đêm thiếu phụ bên lầu không trăng...
Hãy như chiếc sao băng băng mãi
Để lòng buồn buồn mãi không thôi...

(Một Mùa Đông)

Lưu Trọng Lư cứ tưởng rằng chính ông đã khai tử những bài thơ tình thời tiền chiến, nhưng ông có đâu ngờ những đứa con tinh thần thuở đó, mới chính là những đứa trung hiếu làm rạng danh ông mãi trên thi đàn Văn Học Việt Nam. Thơ ông đã được những nhạc sĩ tài danh miền Nam phổ nhạc với tất cả sự cảm xúc tuyệt với như Phạm Duy, Phạm Đình Chương... để cho mọi người yêu thơ ông vẫn còn yêu ông mãi mãi.

Trong khi ở miền Bắc chạy đuổi theo một lý thuyết không tưởng vọng ngoại, phản bội lại truyền thống Dân Tộc. Cho dù ông là thiên tài một thời vang bóng nhưng “...Lưu Trọng Lư là một trong những nhà thơ gian khổ nhất trong hai cuộc kháng chiến. Từ năm 1946 ông tham dự chiến khu Hòa Mỹ tại Thừa Thiên là chiến trường ác liệt vào hạng nhất trên toàn quốc, đến tháng 5-1975, khi các nhà văn, nhà thơ khác vào Nam để sum họp, đoàn tụ, thì Lưu Trọng Lư đi tìm xác đứa con trai hy sinh tại Vàm Cỏ Tây, mấy hôm trước ngày 30 tháng 4 trên đường tiến quân về Saigon. Giữa hai cái mốc đánh dấu bằng lửa và máu đó, Lưu Trọng Lư không sáng tác được gì đặc sắc, chức vụ chỉ là một nhân viên thường không đáng kể và cuối cùng cũng chỉ là phù danh...” (Đặng Tiến, Hợp Lưu số 3 tháng 2/1992).

Suốt chiều dài trong thời chiến, những Thế Lữ, Văn Cao, Hồ Dzếnh, Lưu Trọng Lư, Thâm Tâm, Vũ Đình Liên... là những giáo chức hoặc là những công nhân chẳng ai để ý tới, để rồi một ngày kia chết trong cô đơn của tuổi già. Cũng may cõi thơ Lưu Trọng Lư quá tuyệt vời về tình mẹ, tình yêu, nên nhiều thế hệ còn giữ mãi trong lòng đôi nét hình ảnh yêu quý đó ở miền Nam. Trước khi Lưu Trọng Lư từ giã cõi đời, ông có tâm sự với một người bạn tâm giao ở Hà Nội về bài thơ sáng tác từ năm 1940 đến nay ông vẫn yêu thích nhất:

...Ước gì ta có ngựa say
Con sông bên ấy bên này của ta
Trời cao, bến lặng, bờ xa...
Lao đao gió sậy, la đà dặm trăng
Một mai bên quán lại ngừng
Quẩy theo với rượu, một vừng giai nhân
Ta say, ngựa cũng tần ngần
Trời cao xuống thấp, núi gần lên xa

(Say)

Những giòng thơ trữ tình của Lưu Trọng Lư cho đến nay chúng ta vẫn cảm thấy chất men say thấm vào tâm hồn ngây ngất như một vừng trăng tỏa sáng ở đầu núi quê hương. Và ở đâu đó, bóng dáng những con nai vàng đang xuống núi, ngơ ngác đạp trên lá vàng khô...

THÁI TÚ HẠP